A Pro Branding design Company

Logos Ads Brand identify designing and consulting

Portfolio

This is what we've been wroking on

[Thương HiệuNhững người gặt hái được hơn người thường được cho là may mắn. Sự thật là ai cũng có vận may. Vận may không phân phát cho người giàu, ngay cả những người hưởng lợi từ vận may tình cờ vẫn phải nổ lực. Mục tiêu của bài viết này cho bạn biết:

1. Những người kiếm tìm cơ hội sẽ luôn gặp may; 2.Chẳng bao giờ còn cơ hội hơn cơ hội hiện có trong tay.

Lấy thí dụ hai nông gia có phần đất ở cạnh nhau. Cả hai khu đất đều quý giá vì dưới ấy có mỏ vàng mà chẳng ai trong hai người biết. cả hai đều đọc báo chí tường thuật về việc tìm ra mỏ vàng ở đâu đó trong vùng. Một người quan tâm tìm hiểu, sau đó một nhà địa chất lấy được mẫu vật ở phần đất của ông ta. Còn người kia chẳng màng gì chuyện đó, cho rằng dễ gì mình có vận may – trước sao giờ vẫn thế mà, lấy gì thay đổi số phận? 

Lẽ dĩ nhiên, anh chàng nông dân đã cất công tìm hiểu đã thấy điều mà anh ta tìm kiếm. Ông ta còn nhắm đến khả năng khu đất của ông bạn bên cạnh và đã ngõ ý mua luôn phần đất đó, vốn chẳng tin là minh có vận may, nên anh chàng này chấp thuận ngay. 

Thêm một ví dụ nữa để thấy rằng cơ hội ở khắp nơi, chỉ đợi con ngưới phát hiện ra. Chúng tôi gợi lại chuyện hai chàng trai hàng ngày đi tới sở làm, ngang qua một tiệm video chẳng mấy rom rã. Chủ của tiệm băng này lâu nay chỉ cốt sao kiếm đủ sống và bây giờ quyết định bán quách nó đi. 

Hai anh chàng kia biết rõ công việc làm ăn trì trệ của cơ sở này chứ. Nhưng một trong hai người nhìn thấy cơ hội kiếm lợi từ những mặt mạnh của cơ sở và khắc phục những mặt yếu. Anh ta đã mua cơ sở ấy mà không cần đầu tư thêm vốn, chỉ tiếp sức thêm cho nó hoạt động. Trong vòng ba năm, anh ta đã bán nó, kiếm lời vài trăm triệu như chơi. 

Bà chúa vận may không bao giờ vỗ vai bạn và bảo “tôi đây – và hãy túm lấy tôi đi, tôi là của anh mà”. Chẳng có gì miễn phí trên đời này cả, kể cả vận may, nó luôn đòi hỏi một sự cố gắng nào đó. Những ai đi tìm cơ hội sẽ gặp may – cơ hội và vận may là anh em song sinh

Lý do mà phần lớn người ta không nắm được cơ hội là do sự chần chừ và thiếu khẩn trương. Chúng ta hãy đối diện với nó, sự thường chúng ta hay lưỡng lự và để cơ hội vụt qua hơn là biến cơ hội thành thắng lợi. Phần lớn chúng ta thích yên vị, sợ làm điều gì khiến gây đảo lộn những gì đã cho chúng ta sự nhàn nhã. Chúng ta có thể thấy nhiều cơ hội tốt nhưng chúng quá lớn khiến chúng ta e ngại. Ở đây cần một động lực nào đó thúc giục chúng ta hành động: Có thể nhờ tác động của một cuốn sách gây cảm hứng hay ảnh hưởng của một người thành đạt. nếu không có chút động lực nào, hẳn là chúng ta rất dễ chần chừ. Mà nếu đã chần chừ thì cơ hội sẽ mất. Sự lưỡng lự như tên trộm đánh cấp tương lai của chúng ta

Vì sao có người nhìn thấy cơ hội trong khi người khác lại không?

Ấy chỉ vì người ấy luôn sẵn tìm cơ hội. Nhưng ai sẵn tìm dịp may sẽ thấy nó nằm trong cơ hội. Liệu một người đầu tư vào thị trường và đã làm ra tiền chỉ toàn là do cơ may, còn người không đầu tư gì cả thì bảo rằng mình không có cơ may? Hay anh công nhân hăng say làm việc và được thăng tiến lại cho rằng anh ta gặp cơ may hay sao. Hoặc một người chăm chỉ viết lách và trở thành tác giả của cuốn sách bán chạy nhất thì nói là ông ta gặp hên để đem so sánh với anh chàng chẳng bao giờ bắt đầu lấy một câu chữ. 

Một số người tìm thấy vận may trên sòng bạc hay xổ số nhưng không nhiều lắm. Đấy là loại may mắn nhất thời, mang tính hên xui, cái trò chơi mà sự hên xui luôn chóng lại bạn. Phần may mắn luôn thuộc về những kẻ tổ chức, những kẻ đã thấy trước. 

Vận may và số đỏ sẽ đến với những ai tìm kiếm và nắm bắt cơ hội. Thế giới quanh ta luôn hoạt động và sự thay đổi chưa bao giờ nhanh đến thế - và xem chừng ngày càng nhanh hơn. Chính bước thay đổi nhanh như vậy, đã tạo ra những cơ hội có lợi. Quả là hiện nay có hàng trăm cơ hội kiếm tiền chung quanh chúng ta. 

Peter Drucker, giám đốc điều hành có uy tín trong cộng đồng người hindu, đã nhận ra bảy lĩnh vực chủ yếu của cơ hội: 
  1. Những sự cố bất ngờ 
  2. Lỗ hỏng của thị trường 
  3. Nhu cầu về lợi thế cạnh tranh. 
  4. Những thay đổi về chính sách của chính phủ và các cơ chế đã định 
  5. Những thay đổi về nhân khẩu và dân số 
  6. Lối sống thay đổi và những giá trị biến đổi 
  7. Kiến thức mới và công nghệ
Bảy lĩnh vực chủ yếu của cơ hội:

Những sự cố bất ngờ
Sự kiện bất ngờ có thể là một thiên tai như động đất hay bảo tố. Lúc đó phát sinh nhu cầu tái thiết lớn, rồi việc cung cấp lương thực, thực phẩm và quần áo ….Một sự cố bất ngờ có thể làm cho đối thủ thất bại, tạo cơ hội cho chúng ta nắm bắt thị phần. Nó mở ra thị trường để những nhà doanh nghiệp mới nhảy vào lắp đầy lổ hỏng. Đại hoạ AIDS được coi là cơ hội làm gia tăng đáng kể việc sử dụng bao cao su, với việc đáp ứng nhu cầu ấy đã đem lại lợi nhuận to lớn. Những lỗ thủng của tầng ozon khiến cho những nhà sản xuất và kinh doanh thuốc chóng nắng phát tài.

Lỗ hỏng của thị trường
Nếu thị trường cung cấp không đủ lập tức trở thành cơ hội lấp đầy lỗ hỏng. Lỗ hỏng có thể là do sự độc quyền khiến nhà sản xuất không cung cấp được điều mà chúng ta cần. Cũng có khi do kết quả của sự cạnh tranh giá cả quá căng thẳng. Để minh họa chúng tôi nhớ lại thí dụ về chiến tranh giá cả kéo dài giữa các trạm dịch vụ thay dầu mỡ ô tô. Khi cố gắng hạ giá xăng dầu cho khách hàng thì mỗi thợ máy – không trừ một ai, đang hạ mức lãi suất và cắt giảm các dịch vụ. Một trường hợp ngoại lệ đã nhìn thấy cơ hội, thay vì lao vào sự cạnh tranh anh ta nhận thêm người làm và gia tăng các dịch vụ. Kết quả là anh ta có thêm thị phần và thu thêm lợi tức.

Nhu cầu về lợi thế cạnh tranh trong ngành
Các doanh nghiệp điều mong sao luôn có sự tiến bộ hoặc giảm chi phí hoặc tạo cho sản phẩm dịch vụ của họ có lợi thế hơn đối thủ. Cải tiến là bản chất của cạnh tranh. Điều này tạo ra cơ hội để tìm ra những cách đổi mới sản phẩm hoặc đổi mới hệ thống. Một khi doanh nghiệp đã có được công nghệ mới, thì các đối thủ của nó cũng có được như thế nếu không muốm bị mất thị phần. Sự thể này tạo ra cơ hội to lớn cho người phát minh công nghệ mới và những ai có khả năng tái tạo hoặc cải tiến nó bằng chính công nghệ của mình.

Những thay đổi về chính sách của chính phủ và các cơ chế đã định
Các thay đổi về chính sách của chính phủ cũng tạo ra được cơ hội. Những thay đổi về các chính sách y tế có thể tạo ra các cơ hội cho các dịch vụ chăm sóc y tế tư nhân. Một thay đổi về chính sách thuế có thể đưa đến sự chuyển đổi vốn từ khu vực này qua khu vực khác, kèm theo việc gia tăng hay cắt giảm hoạt động. Khi chính phủ khuyến khích việc xuất khẩu sẽ tạo ra sự tăng tốc ngành ngoại thương và nhu cầu nắm bắt thị trường nước ngoài, khuyến khích mọi ngành công nghiệp lưu tâm đến việc cải tiến và đào tạo. Sự thể này phát sinh nhu cầu về các trung tâm dạy nghề và những nhà cung cấp nguồn tài liệu. Vì vậy chúng ta luôn theo dõi chặt chẽ chính sách của chính phủ. 

Những biến đổi về nhân khẩu và dân số
Một sự thể hiển nhiên là dân số của chúng ta không còn non trẻ nữa, nhưng mấy ai nhìn cơ họi theo hướng đó? Khi dân số của chúng ta trưởng thành, thì bậc trưởng thượng ngày càng quan trọng. Các quyền lợi và tiện nghi của người cao tuổi trở thành cuộc cách mạng ẩn ý. Điều này có nghĩa là các luật sư, những cố vấn tài chính, nhà hưu dưỡng các phương tiện chăm sóc y tế cho người già, các sản phẩm dành chuyên cho nguời cao tuổi, đang có nhiều cơ hội.

Lối sống thay đổi và những giá trị biến đổi
Việc xuất hiện những gia đình có hai thu nhập tạo ra các cơ hội cho các nhà giữ trẻ nhu cầu chăm sóc con trẻ. Cuộc cách mạng y tế và sức khỏe tạo ra nhiều cơ hội cho các câu lạc bộ sức khỏe, các chuyên gia về dinh dưỡng , những nhà sản xuất quần áo thể dục. Tuy nhiên nó lại tạo ra mối nguy cho các nhà máy bia và các hãng thuốc lá. Phong trào về môi trường đang tạo cơ hội cho những người sản xuất thực phẩm cơ bản, nhà máy xử lý và tái chế rác, cùng toàn bộ các loại rau xanh.

Kiến thức mới và công nghệ
Sự đổi mới tạo ra nhiều cơ hội. Nhìn lại lịch sử ta thấy việc phát minh một công cụ đơn giản như cái cày đã tạo ra những cơ hội to lớn. Cái cày là công cụ rất sớm trong nền văn minh Ai Cập, giúp tạo ra dư thừa thực phẩm, cho phép người dân của nước này làm những công việc khác phi nông nghiệp. Từ đó phát sinh ra cơ cấu xã hội phức tạp hơn đó là thành phần quan lại – việc phát minh ra cái cày đã nảy sinh biết bao vấn nạn! 

Hãy nghĩ về các cơ hội mà máy tính đã tạo ra. Nhiều nền kinh tế đang phát triển được kiến tạo nên nhờ việc sao chép (có khi bất hợp pháp) công nghệ mới nhất này và cung cấp nó cho các nền kinh tế thế giới với giá rẻ nhất. Một thí dụ khác là đầu máy video. Hai mươi năm trước chưa có chiếc nào. Sự gia tăng nhanh đầu máy video đã làm phát sinh tăng tốc những nhà sản xuất và bán lẻ. Đồng xuất hiện lực lượng những ngành công nghiệp phụ như các cơ sở cho thuê video. 

Chính trong bảy lĩnh vực này mà các cơ hội thường xuyên xuất hiện. Mỗi ngày là một loạt các sự cố và mỗi sự cố được xem là một cơ hội. Nếu cánh cửa đóng sầm trước mặt bạn, đừng lo lắng về nó. Còn nhiều cơ hội khác đang chờ bạn phát hiện ra. Hãy nhận ra rằng cái khướt từ chỉ là cái búng nhẹ của đồng tiền được gọi là sự thành công. Cứ búng đồng tiền đủ số lần thì mặt khác sẽ ngửa lên. Điều ấy chẳng có gì là phù phép cả - chỉ là trò chơi những con số. 

Kiên định và lao động là con đường để đến vận may.

Hãy làm quen với sự cự tuyệt. Đừng coi đó là chuyện chỉ có riêng mình phải chịu. Sự khướt từ là điều có lợi, nó giúp bạn nhìn lại chính mình kỹ càng hơn cho đến khi bạn đủ sức. Cái nhìn tích cực nhất là hãy coi sự khướt từ như một bước đi khác trên cầu thang dẫn đến thành công. Người từ chối ý kiến của bạn không phải là họ muốn làm tổn thương bạn mà là muốn giúp bạn và sẵn sàng giới thiệu bạn cho người khác có thể đang cần bạn. 

Hãy nhìn vấn đề theo cách này: “Mỗi câu nói không” đưa bạn tới gần hơn “câu nói thuận”. Nếu bạn bắt đầu mất tin thần, hãy nghĩ về câu chuyện sau đây. Nếu bạn có thể tưởng tượng tới 1009 “câu nói không” để chờ có duy một “ câu nói thuận” lúc ấy bạn đánh giá đúng điều mà Đại tá Sanders (nổi tiếng về món gà quay Kentuckey) đã trải qua. 

Ngày ông ta giải ngũ và nhận ngân phiếu lương hưu đầu tiên, Sanders chẳng có gì ngoài một nhà hàng ăn nhỏ dường như muốn sập tiệm vì xa lộ chính đi theo một lộ trình khác. Vào ngày ấy, ông quyết định thử xem mình có thể kiếm tiền bằng việc bán món gà quay hay không, ông biết là thịt gà của ông ngon vì nhiều năm rồi các khách hàng của ông bảo như vậy. Dự định của ông là cho phép các nhà hàng khác bán món gà quay của ông để ông hưởng thêm hoa hồng. 

Tiệm đầu tiên mà ông tới chào hàng đã cười vào mũi ông và bảo hãy mang món gà của ông rồi biến đi. Đó đâu phải là lần khướt từ duy nhất mà đến 1009 lần như vậy mới kiếm được người thuận làm theo ý định của ông. Bạn có thể tưởng tượng ông ta cảm thấy thế nào sau khi bị 1009 người khướt từ! ông quyết phải thực hiện được ý định của mình và kẻ hưu trí này đã ráng đi tiếp, đến nổi phải ngủ cả trên xe cho đến khi có người chấp thuận. Món Gà Quay Kentcky ra đời. Lịch sử còn cho thấy nhiều tấm gương về lòng kiên trì đã dẫn đến thành công. 

Thực sự bạn có mong người ta nói “thuận” khi bạn đề nghị họ cam kết làm một điều gì không? Bạn cần cho họ được quyền đưa ra lý do vì sao họ không làm theo ý bạn. Phản ứng đầu tiên của 99% người mà bạn nhờ tới đều mang ý tưởng từ chối. 

Trông chờ câu trả lời “không” nhưng đừng bỏ cuộc cho tới khi người đó nói ít nhất 5 lần. Sau mỗi lần khướt từ, hãy ra về và nghĩ cách để tiếp cận họ hiệu quả hơn. Với lần tiếp xúc thứ ba, người ấy hẳn phải thận trọng hơn. Đến lần thứ năm. Họ sẽ nghĩ hẳn bạn phải có điều gì đó đáng xem xét nên bạn mới quyết chí đến thế! 

Bạn đánh giá thế nào về câu, “ Không, thưa ông”? Bao nhiêu lần “không” trước khi bạn bỏ cuộc một, hai, năm, một trăm, một ngàn? Nếu chỉ là một hay hai lần mà bạn đã bỏ cuộc là bạn có vấn đề. Nếu bốn hay năm lần, có thể hiểu được. Mà nếu đến 1009 lần, thế nào bạn cũng thành công. 

Việc bạn đánh giá câu “không, thưa ông” thế nào tuỳ theo khoản mà bạn rao bán. Chúng tôi biết có người rao bán sản phẩm nhưng không tin tưởng. Mà nếu không tin tưởng như vậy thì khi bị khướt từ họ cảm thấy đồng tình với người được mời mua. Vì không tin vào sản phẩm thì làm sao thuyết phục được. Họ thất bại là điều chắc chắn. 

Nếu tâm trí bạn không ở trong sản phẩm làm sao bạn có thể thuyết phục người khác về những lợi ích của nó? Còn nếu bạn thiết tha với sản phẩm, bạn sẽ không xem lời khướt từ kia là một thất bại riêng mà bạn nghĩ rằng người ta chưa thấy được những lợi ích của nó. Vấn đề là thế này, không chỉ tin sản phẩm mà bạn đang rao bán mà phải thực sự tin vào chính mình! Tin như một cậu học trò vậy. Lần sau, khi có cơ hội, bạn nhớ hãy nắm chắc lấy nó!

Nguồn: Trích từ 7 cách làm giàu
The top 25 Most Powerful Corporate Brands 2014[Tư vấn thương hiệuCoca-Cola là thương hiệu toàn cầu "hùng mạnh" nhất, theo một báo cáo gần đây từ CoreBrand. 

Tổ chức biên soạn thứ hạng năm 2014, bằng cách lấy ý kiến của 10.000 chuyên gia kinh doanh về ấn tượng của họ đối với các thương hiệu hàng đầu ở cấp độ doanh nghiệp, không phải sản phẩm cá nhân hoặc đơn vị. Các chuyên gia được yêu cầu đánh giá sức mạnh của thương hiệu dựa trên hai tiêu chí:
  1. Sự quen thuộc (Như thế nào là thương hiệu được biết đến? ) 
  2. Và Được ưa thích (Thương hiệu có uy tín tích cực, quản lý thương hiệu tốt, và tiềm năng đầu tư tốt?) .
Coca-Cola đã được xếp hạng một kể từ năm 2008, khi phát hành CoreBrand đầu tiên. Khoảng cách giữa Coca-Cola và Hershey, thương hiệu được xếp thứ hai năm 2014 là lớn nhất giữa bất kỳ hai thương hiệu được liệt kê liên tục trong danh sách ( 2,8 điểm ).

Amazon.com đã tăng điểm mạnh nhất so với năm trước, tăng 25 vị trí xếp hạng thứ 91 . IBM đã tăng cao thứ hai, tăng 15 vị trí xếp hạng thứ 49 . 

Trong số 25 thương hiệu hàng đầu, Microsoft đã có mức tăng mạnh nhất, lên chín vị trí , xếp hạng thứ 11. Microsoft tăng 34 vị trí từ năm 2008. Google là tăng nhiều nhất kể từ năm 2008, tăng 90 vị trí đến ở vị trí thứ 26 . 

UPS , Walgreens, và CBS đã tụt hạng lớn nhất trong năm qua: UPS đã từ vị trí 11 giảm xuống vị trí 22 ; Walgreens đã giảm từ 12 đến 23 ; và CBS đã giảm từ 58 đến 69 . Trong top 10 , Kellogg đã có sự mất mát lớn nhất , giảm bốn vị trí từ thứ 5 đến thứ 9. CBS đã có sự suy giảm lớn nhất kể từ năm 2008, mất 48 vị trí từ thứ hạng cao của nó từ vị trí 21. 

Dưới đây là những phát hiện bổ sung từ CoreBrand và 25 nhãn hiệu của công ty hàng đầu trong danh sách. (Danh sách Top 100 có thể được truy cập ở đây ).


Chi phí quảng cáo 

Top 5 cổ phiếu tăng giá trong danh sách top 100 thương hiệu đã cắt giảm chi tiêu quảng cáo của họ chỉ 17,5% trên trung bình trong suốt năm 2009 vào thời kỳ suy thoái kinh tế; đó là so với một vết cắt 34,8% trên trung bình cho năm thương hiệu với sự sụt giảm lớn nhất . 

Đến năm 2010, 5 thương hiệu công ty trên đã tăng tương đối so với mức đầu tư năm 2008, trong khi nó đã giảm cho đến năm 2012, các công ty chỉ đầu tư để khôi phục lại mức năm 2008.


Khả năng phục hồi 

Nhìn chung, 100 thương hiệu hàng đầu đã cho thấy khả năng phục hồi trong cả hai chỉ tiêu Quen thuộc và Được ưa thích với người trả lời cuộc khảo sát từ năm 2008, với hầu hết các chỉ tiêu đánh giá có sự giảm nhẹ trong thời suy thoái kinh tế. 

Kể từ mức thấp nhất trong năm 2010, 25 thương hiệu hàng đầu đã đạt được 0,2 điểm trong điểm số trung bình của họ ; thương hiệu xếp hạng 26-50 là tăng 1,8 điểm; thương hiệu 51-75 là tăng 2,6 điểm; và thương hiệu 76-100 là tăng 3,2 điểm.


[Tư vấn quản lý] Thị trường tư vấn Việt Nam vài năm gần đây trở nên nhộn nhịp với những cái tên cộm cán xuất hiện trên thị trường như McKinsey, BCG…Trước những cơn bão khó khăn chung của nền kinh tế, khách hàng (trong phạm vi bài viết xin dùng từ “khách hàng” để mô tả các doanh nghiệp sử dụng tư vấn) đã tận dụng nguồn tài nguyên từ những nhà tư vấn như thế nào. Kết quả của nhóm nghiên cứu thuộc văn phòng đào tạo quốc tế - đại học Bách Khoa đã phần nào trả lời câu hỏi này.

Ai có thể tham gia vào nghề tư vấn

Được mệnh danh như bác sĩ của doanh nghiệp, nghề tư vấn đ̣òi hỏi bạn phải có nhiều khả năng, kiến thức, kỹ năng, tư duy logic và những năng lực cần thiết khác để có thể chuẩn đoán bệnh, điều trị bệnh một cách thành công. Những yêu cầu trên đă khiến không ít bạn đánh giá công việc này khó khăn, chưa phù hợp với chuyên môn nên khó có thể tham gia được, vậy ai có thể tham gia được nghề này? Theo bà Hà Thanh Tú – COO – Công ty tư vấn McKinsey Việt Nam chia sẻ trong hội thảo “Nghề tư vấn” do chương tŕnh EMBA-MCI – ĐH Bách Khoa Tp.HCM tổ chức thì tất cả những ai có đam mê, chịu học hỏi và chấp nhận thách thức đều có thể tham gia nghề này.

Theo thống kê tại McKinsey những nhà tư vấn có chuyên môn đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó: 72% có chuyên môn gốc kỹ sư, 7% có chuyên môn là xă hội, số còn lại có chuyên môn kinh tế. Đồng thời, các tập đoàn tư vấn hàng đầu như McKinsey luôn mở rộng cửa chào các tân cử nhân có năng lực và dám thách thức bản thân.


Đa dạng sự lựa chọn 

Dù vào Việt Nam khoảng thời gian 10 - 15 năm về trước nhưng ngành Tư vấn quản lý vẫn chưa thực sự phát triển, một phần do nhu cầu, nhận thức của người sử dụng dịch vụ chưa thực sự thấu hiểu được ngành này. Một lý do khác là mức độ phức tạp, đa dạng các lĩnh vực nhỏ khác trong ngành. Cũng vì tính chất đa dạng các lĩnh vực trong ngành nên khi tham gia lựa chọn ngành Tư vấn quản lý là con đường nghề nghiệp tương lai thì các bạn có thể chọn những lĩnh vực nhỏ khác nhau để phát triển tương lai của mình. 

Một số lĩnh vực trong ngành tư vấn quản lý: 
- Công nghệ Thông tin
- Trách nhiệm xă hội trong kinh doanh

Con đường trở thành nhà tư vấn chuyên nghiệp

Để trở thành một nhà tư vấn chuyên nghiệp trong một công ty tư vấn theo Giáo sư Friedrich Bock – Giảng viên chương tŕnh EMBA-MCI có 5 bậc cơ bản (hình 1), đây là mô hình cơ bản mà các công ty tư vấn đang áp dụng vào trong việc đào tạo và phát triển nhân sự. Qua 5 bậc này sẽ phản ánh tình trạng nghề nghiệp tư vấn cũng như kiến thức, kinh nghiệm và trách nhiệm trong một dự án cũng như trong công ty. Và cũng theo giáo sư thì một nguyên tắc cơ bản các nhà tư vấn muốn phát triển bản thân cần cập nhật kiến thức và kinh nghiệm để lên các bậc cao hơn. Thời gian trung bình để từ một nhân viên tổng hợp phân tích thông tin trở thành cộng sự (Partner) trong công ty tư vấn có thể mất từ 15 – 20 năm trong nghề và trải qua nhiều dự án, hoạt động khác nhau. Với sự đa dạng các lĩnh vực trong ngành công nghiệp Tư vấn, cũng như những yêu cầu đối với nhân sự tham gia và thời gian dài để trở thành cộng sự trong một công ty tư vấn là những thách thức lớn đối với những ai dám dấn thân. Nhưng bù lại bạn sẽ nhận được khối lượng kiến thức khổng lồ, là người hỗ trợ cho các doanh nghiệp, đơn vị khó khăn và sẽ có được khoản thu nhập không nhỏ với những gì mình đã đầu tư. Do đó, sẽ là cơ hội cho các bạn nếu muốn thách thức bản thân mình.


Thị trường tư vấn Việt Nam vài năm gần đây trở nên nhộn nhịp với những cái tên cộm cán xuất hiện trên thị trường như McKinsey, BCG…Trước những cơn bão khó khăn chung của nền kinh tế, khách hàng (trong phạm vi bài viết xin dùng từ “khách hàng” để mô tả các doanh nghiệp sử dụng tư vấn) đã tận dụng nguồn tài nguyên từ những nhà tư vấn như thế nào. Kết quả của nhóm nghiên cứu thuộc văn phòng đào tạo quốc tế - đại học Bách Khoa đã phần nào trả lời câu hỏi này.

1. Thị trường chưa sẵn sàng

Nghiên cứu được thực hiện trong tháng 4/2013 bằng phương pháp phỏng vấn sâu với 40 khách hàng thuộc các ngành nghề viễn thông, ngân hàng, truyền thông, thực phẩm, may mặc, bán lẻ, nông nghiệp. Qui mô các công ty khách hàng đều trên 100 nhân sự. Người trả lời là lãnh đạo cấp cao trong công ty.

Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn các khách hàng (đa phần là công ty nhà nước) thường chỉ sử dụng dịch vụ tư vấn khi họ gặp vấn đề khó khăn, mang tính chất sống còn, các khách hàng dạng này thường thiếu sự sẵn sàng và chuyên nghiệp trong dịch vụ tư vấn. Việc đưa ra những yêu cầu cần được tư vấn, chuẩn bị những hồ sơ thông tin liên quan cung cấp thường không được chuẩn bị trước. Một nhóm nhỏ các khách hàng thuộc nhóm công ty cổ phần, công ty mới thành lập thường sử dụng dịch vụ tư vấn như một công cụ trong việc lập kế hoạchgiảm chi phí. Các khách hàng dạng này thường có mức độ sẵn sàng và chuyên nghiệp hơn trong việc sử dụng dịch vụ tư vấn.

Tuy sử dụng dịch vụ tư vấn cho những trường hợp khẩn cấp nhưng thường ngân sách sử dụng cho hoạt động sẽ được hoạch toán vào ngân sách hoạt động của phòng ban hoặc chi phí hàng năm. Có vẻ phần lớn khách hàng tư vấn tại Việt Nam muốn trị bệnh nhanh chóng nhưng không muốn tăng thêm chi phí và chưa có sự chuẩn bị tài chính nghiêm túc.

Vấn đề đặt ra cho nhà tư vấn là cần lượng hóa giá trị các gói sản phẩm tư vấn được qui ra thành giá trị dòng tiền. Và trên góc độ dòng tiền, khách hàng sẽ xem vấn đề tìm đến nhà tư vấn như một dự án đầu tư hơn là một dự án giải quyết vấn đề tạm thời. Để làm được điều này cần những chương trình xây dựng kiến thức về các hoạt động tư vấn cho khách hàng, đồng thời các doanh nghiệp tư vấn cần thiết kế sản phẩm dựa trên nền tảng lượng hóa giá trị thành dòng tiền hơn là chú trọng vào các yếu tố định tính.

2. Hoạt động thông qua những mối quan hệ

Ngoài việc các khách hàng chưa thật sự sẵn sàng với thị trường tư vấn, một đặc điểm nữa của thị trường là vận động thông qua những mối quan hệ. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra kênh thông tin giao tiếp giữa nhà tư vấn và khách hàng là các mối quan hệ và giới thiệu. Khách hàng chọn lựa và đánh giá nhà tư vấn dựa trên cảm tính và không thông qua qui trình vì đa số việc sử dụng các dịch vụ không hề dựa trên một kế hoạch định trước.

Lãnh đạo cấp cao là người đóng vai trò lớn nhất trong quá trình chọn lựa và đánh giá nhà tư vấn. Hầu hết thông tin về nhà tư vấn được lãnh đạo trong công ty khách hàng thu thập thông qua mối quan hệ và giới thiệu từ bạn bè. Đặc biệt những nhà tư vấn có được sự giới thiệu từ người quen sẽ có cơ hội rất lớn nhận được hợp đồng. Sau dự án, phần lớn khách hàng vẫn có những qui trình để đánh giá chất lượng dự án tư vấn, tuy nhiên lãnh đạo doanh nghiệp thường có nhận xét và đánh giá riêng của mình dựa trên những lần tiếp xúc trực tiếp với đơn vị tư vấn. Những nhận xét và đánh giá của lãnh đạo doanh nghiệp được xem như đánh giá cuối cùng về chất lượng nhà tư vấn.

Kết quả trên cho thấy các công ty tư vấn khi triển khai các chương trình truyền thông, tìm kiếm khách hàng cần định hướng thật cụ thể vào chủ doanh nghiệp hoặc giám đốc điều hành, vì họ là người trực tiếp ra quyết định chọn lựa và đánh giá nhà tư vấn. Trong quá trình thực hiện dự án, cần tăng cường hoạt động chăm sóc khách hàng hướng đến lãnh đạo công ty, vì họ là người sẽ ra đánh giá cuối cùng về chất lượng của dự án. Mặt khác, các công ty tư vấn cần xây dựng hệ thống thông tin truyền khẩu mạnh vì những thông tin được giới thiệu truyền khẩu là nguồn thông tin quan trọng và tin cậy nhất.

3. Trong ngắn hạn - cung vẫn chưa gặp cầu

Khi được hỏi về các rào cản khiến khách hàng không thể tiếp cận các công ty tư vấn. Vấn đề với các công ty tư vấnthương hiệu quốc tế chính là giá quá cao. Như đã nói bên trên, các công ty tư vấn có thể qui đổi giá trị tư vấn thành dòng tiền để tạo một cái nhìn mới cho khách hàng. Tuy nhiên, đó là hướng đi trong dài hạn, trong ngắn hạn phần lớn khách hàng vẫn chưa có kế hoạch sử dụng tư vấn cụ thể và đồng thời chưa có cái nhìn lượng hóa tiền tệ các giá trị của việc tư vấn. Do đó ngân sách dành cho tư vấn là không cao.

Việc thiết kế những gói sản phẩm với giá trị vừa phải là cách giải quyết tốt trong ngắn hạn giúp cho số lượng khách hàng nhiều hơn có thể tiếp cận các dịch vụ tư vấn. Từ đó các doanh nghiệp tư vấn có thể xây dựng thói quen sử dụng các dịch vụ cho khách hàng và dần dần làm cho họ hiểu về giá trị qui đổi thành dòng tiền của các dịch vụ tư vấn.

4. Cần “Sếp” quan tâm

Năng lực của một công ty tư vấn được đánh giá qua các tiêu chí:
Một vấn đề khác được đa số khách hàng nêu lên là họ cho rằng trong các dự án tư vấn, họ cần nhìn thấy các chuyên gia cao cấp tiếp xúc, trao đổi và trực tiếp tham gia giải quyết vấn đề nhiều hơn. Với các dự án tư vấn đã sử dụng, các khách hàng chia sẻ họ chỉ được trao đổi với các nhân sự cấp cao trong thời gian đầu xúc tiến hợp đồng. Sau khi đã ký kết hợp đồng và vận hành, thường dự án sẽ do nhân sự tư vấn cấp thấp hơn đảm nhiệm, những người này thường có ít kinh nghiệm và gây ra cho khách hàng cảm giác dự án của họ không được giải quyết bởi các chuyên gia cao cấp. Và thường họ sẽ bị suy giảm niềm tin vào công ty và dịch vụ tư vấn nhận được.

Vấn đề trên có thể đến từ hai nguyên nhân: Thứ nhất, doanh nghiệp tư vấn không đủ nguồn nhân sự cấp cao dàn trải cho tất cả các dự án tư vấn. Thứ hai, nhân sự cấp cao có thể tham gia nhiều thời gian vào các dự án tư vấn nhưng sự tham gia của họ là thầm lặng và khách hàng chưa/không nhìn thấy được điều này. Dù là nguyên nhân gì đi nữa các doanh nghiệp tư vấn nên cho các nhân sự cấp cao của mình xuất hiện trong các hoạt động chăm sóc khách hàng nhiều hơn. Một cuộc điện thoại, viếng thăm, tham gia trong một cuộc họp không chiếm quá nhiều thời gian nhưng sẽ tạo được niềm tin và cảm giác tốt cho khách hàng và thuận lợi cho quá trình đánh giá về sau này.

5. Kết luận

Dù tiếp cận bài viết với vị trí công ty tư vấn hay khách hàng sử dụng dịch vụ tư vấn. Người viết muốn đưa ra một số vấn đề của thị trường tư vấn hiện tại nhằm giúp cho khách hàng và công ty tư vấn có thể đến gần với nhau hơn. Vì các công ty tư vấn thường là nơi tập trung nguồn chất xám rất lớn, đặc biệt những chuyên gia hàng đầu xuất thân từ giới học thuật thường tiếp cận doanh nghiệp thông qua hình thức tư vấn, dưới tư cách pháp nhân công ty hoặc cá nhân. 

Để sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên này, khách hàng cần có những thay đổi trong cách thức nhìn nhận các dự án tư vấn. Nên nhìn nhận dưới góc độ đầu tư và các giá trị mang về nên qui ra thành giá trị dòng tiền hơn là nhìn nhận các dự án như là cách thức để giải quyết vấn đề trong ngắn hạn. Trên cơ sở này, khách hàng cần có sự chuẩn bị kỹ càng về kế hoạch, mục tiêu, ngân sách, các yêu cầu cụ thể và những hỗ trợ có thể cho công ty tư vấn trước khi tham gia dự án tư vấn.

Với doanh nghiệp tư vấn, về dài hạn cần tiếp cận khách hàng trên cơ sở qui đổi giá trị tư vấn thành giá trị dòng tiền và tiếp cận khách hàng dựa trên các mối quan hệ và giới thiệu. Trong ngắn hạn cần thiết kế các gói sản phẩm nhỏ hơn với chi phí thấp hơn để có thể tiếp cận lượng lớn khách hàng chưa đủ khả năng. Ngoài ra, trong các dự án hiện tại, nhân sự tư vấn cấp cao cần tham gia và xuất hiện trước khách hàng nhiều hơn thông qua các hoạt động chăm sóc khách hàng

Tư vấn là một dịch vụ, và trong ngành dịch vụ thì việc chăm sóc tiếp xúc khách hàng là hoạt động quan trọng. Đặc biệt nếu được những nhân sự, chuyên gia nổi tiếng, cao cấp chăm sóc thì giá trị và sự trân trọng từ khách hàng sẽ tăng lên gấp nhiều lần.

theo Hoàng Dương & Trần Thanh Tòng (Marketingsolutionvn)

Bài liên quan:
[Tư vấn thương hiêu] Các công ty nhận quảng cáo trực tuyến đút túi hàng tỷ USD mỗi năm, nhưng họ đang phải đối mặt với một thực trạng nhức nhối: Quảng cáo giả mạo.

Khoảng 36% lượt truy cập trên mạng được cho là “ảo”, đây là kết quả của việc các máy tính bị virus và mã độc tấn công, từ đó tự động truy cập các trang web, theo số liệu do Cục Quảng cáo thương mại tương tác đưa ra.

Các bot traffic (thủ thuật tăng lượt truy cập ảo cho website) đánh lừa công ty quảng cáo vì các công ty này trả tiền theo số lượt truy cập đoạn ad, không tính là người truy cập hay virus truy cập.

Những kẻ lừa đảo tạo các trang web có lượt truy cập ảo khổng lồ và thu tiền từ các công ty đăng quảng cáo qua người trung gian, đây là người tổng hợp diện tích quảng cáo từ các trang web và bán lại diện tích cho các công ty có nhu cầu marketing.

Việc định danh những kẻ lừa đảo này là rất khó vì chúng thường hoạt động ở khoảng cách địa lý xa như vùng Tây Âu, các chuyên gia cho biết.

Tuy nhiên, thực trạng này không khiến các công ty chùn tay khi chi tiền quảng cáo trực tuyến. Kênh tiếp cận khách hàng nhanh nhất là Internet, họ không thể bỏ bẵng mảnh đất này. Nhưng nó làm dấy lên các lo ngại về việc tiền bỏ ra không thu lại hiệu quả như mong đợi.

Tiền đổ vào quảng cáo kỹ thuật số - bao gồm cả mạng xã hội và thiết bị di động – được kỳ vọng sẽ tăng gần 17% lên 50 tỷ USD trong năm nay tại Mỹ, chiếm khoảng 28% tổng chi vào quảng cáo của tất cả công ty Mỹ. 5 năm về trước, con số này chỉ ở khoảng 16%.

Bây giờ, câu hỏi được đặt ra là nếu tình trạng này gia tăng, thị trường sẽ bị thay đổi như thế nào. Rất nhiều chuyên gia trong giới đã bày tỏ mối lo ngại, ông Vivek Shah – Chủ tịch Cục Quảng cáo thương mại tương tác cho biết trong hội thảo thường niên của cục năm ngoái, mọi người cho rằng quảng cáo trực tuyến đang gặp “khủng hoảng”.

Rất nhiều công ty lớn như L'Oréal, General Motors Co. và Verizon Communications Inc… đã phát hiện các mẩu quảng cáo trực tuyến của họ bị bot traffic tấn công, một nguồn tin cho hay.

Những ví dụ như thế này làm xói mòn niềm tin của doanh nghiệp vào tính hiệu quả của quảng cáo số so với các hình thức quảng cáo truyền thống như qua ti vi, ông Bob Liodice – Giám đốc điều hành Hiệp hội quảng cáo quốc gia nhấn mạnh.

“Các khách hàng của công ty tôi sẵn sàng trả thêm tiền để quảng cáo, với điều kiện chúng tôi chứng minh được tiền của họ sẽ được đầu tư một cách có kiểm soát và minh bạch, nếu không họ sẽ cất tiền trong két”, ông Quentin George – Giám đốc công ty tư vấn Unbound cho hay.

Do lượng thời gian khách hàng dùng để lướt web trên điện thoại, mạng xã hội và các phương tiện khác đang gia tăng, tỷ lệ vốn các công ty rót vào quảng cáo trên Internet cũng phải tăng, ông cho biết. Tuy nhiên hiện tại, rất nhiều yếu tố đang tác động đến ngân sách dành cho quảng cáo của các doanh nghiệp, thứ nhất là bot traffic, thứ hai là sự khó khăn trong việc đánh giá khách hàng tiếp cận quảng cáo.

Nhiều giám đốc điều hành đến giờ mới biết tới sự tồn tại của bot traffic, một phần là bởi rất khó để tóm các kẻ lừa đảo quảng cáo. Công ty truy tìm quảng cáo ảo White Ops cho biết trong năm ngoái, Mỹ đã để mất 6 tỷ USD vào tay những nhân vật này.

Một vài công ty cho biết họ đã lên kế hoạch giảm thiểu chi tiêu vào quảng cáo trên mạng. Thay vào đó, họ sẽ sâu sát hơn trong việc đánh giá hiệu quả và đòi hoàn tiền nếu phát hiện có hành vi lừa đảo.

Nhiều công ty cũng thêm điều khoản vào hợp đồng, trong đó ra điều kiện họ chỉ trả tiền nếu có các bằng chứng xác đáng chứng minh có thêm nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ hoặc sản phẩm của họ.

Các công ty kiểm toán quảng cáo trực tuyến cũng được nhiều doanh nghiệp cậy nhờ để kiểm soát lượt truy cập ảo.

Theo một nguồn tin, cuộc rà soát quảng cáo của Verizon do công ty Telemetry tiến hành cho về kết quả Verizon đã mất 1 triệu USD vào các quảng cáo giả mạo. Hiện Verizon đang yêu cầu các công ty cho đăng quảng cáo miễn phí để bù vào khoản mất mát trên.

L'Oréal cũng làm việc với Telemetry và nhiều công ty khác để kiểm tra, và phát hiện nhiều mẩu quảng cáo bị bot traffic tấn công, có những trường hợp do chính chủ trang web tiến hành. Hãng còn lần ra thêm nhiều vấn đề khác, ví dụ như có mẩu quảng cáo được các khách hàng ngoài lãnh thổ Mỹ kích vào – vượt phạm vi nhóm khách hàng mục tiêu của quảng cáo.

Các công ty hy vọng những cuộc điều tra này sẽ tạo sức ép lên nhà quảng cáo trung gian và mạng lưới marketing để đảm bảo tiền của mình được đầu tư đúng chỗ. Các trang web có “tiền sử” gian lận lượt truy cập cũng bị truy cứu và bên trung gian sẽ nhận được yêu cầu đăng quảng cáo miễn phí để đền bù cho những công ty này, trên các trang được cho là “sạch sẽ” với lượng truy cập ảo thấp.

General Motors vừa thuê công ty White Ops để soát xét một số mẩu quảng cáo trực tuyến của hãng ô tô, kết quả cũng giống như các công ty trước, nhiều đoạn quảng cáo đã bị bot traffic đánh lừa.

Tiếp theo, Coca-Cola cũng lên kế hoạch viện đến White Ops tiến hành các đợt kiểm tra quảng cáo trực tuyến của hãng đồ uống lớn nhất thế giới, đồng thời mở rộng phạm vi điều tra sang nhiều phương tiện truyền thông khác.

Tập đoàn Lenovo thì đang làm việc với các công ty công nghệ về việc triển khai một đợt kiểm tra.

“Thực chất, đây chính là công việc ‘dọn rác’”, ông Gary Milner – Giám đốc quảng cáo số của Lenovo khẳng định.

Nguồn: Dùng hàng Việt
[Tư vấn quản lýKết quả của tổ chức Futurestep gần 50% đối tượng lao động này sẵn sàng từ bỏ một công việc mà họ đang hài lòng nếu họ cảm thấy doanh nghiệp không thực hiện được các cam kết về đổi mới.

Theo một báo cáo mới đây của Futurestep, một công ty của Korn/Ferry International, tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn và tuyển dụng nhân sự cấp cao hàng đầu thế giới (http://www.kornferry.com), bộ phận nhân sự của các công ty phải suy nghĩ “lớn hơn” về vấn đề đổi mới trong tuyển dụng và phát triển nhân sự nếu muốn giữ lại những nhân viên tài năng nhất.

Futurestep đã nghiên cứu tác động của các phương pháp đổi mới trong việc tuyển dụng, phát triển và giữ lại nhân viên thông qua việc khảo sát 4.000 lao động có trình độ chuyên môn cao trên toàn thế giới.

Kết quả cho thấy gần 50% đối tượng lao động này sẵn sàng từ bỏ một công việc mà họ đang hài lòng nếu họ cảm thấy doanh nghiệp không thực hiện được các cam kết về đổi mới. Báo cáo của Futurestep cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp chỉ có một khoảng thời gian tối đa sáu tháng để thực hiện những phương pháp đổi mới nhằm phát triển và giữ lại nhân viên.

Trong khi đó, 40% nhân viên xác nhận rằng “sự đổi mới mang nặng tính hình thức” cũng sẽ làm cho họ có cảm giác tiêu cực về doanh nghiệp. Các công ty Apple, Google, Coca-Cola và Facebook được xem là những công ty đi đầu trong đổi mới về phương pháp phát triển và giữ lại nhân tài.

Người lao động trên toàn cầu mong muốn tổ chức của mình luôn đổi mới và sáng tạo, nhưng đồng thời họ cũng sẽ sẵn sàng cống hiến hết mình cho tổ chức khi được làm việc trong một môi trường luôn đi đầu trong đổi mới. Nghiên cứu của Futurestep khẳng định rằng, trong thị trường lao động cạnh tranh như hiện nay, sự đổi mới có thể giúp doanh nghiệp thu hút những nhân tài giỏi nhất đang rất hài lòng với tổ chức hiện tại của họ.

Khảo sát cho thấy, khoảng 70% nhân viên cho biết sẽ từ bỏ một công việc nếu họ nhận được đề xuất tuyển dụng cho một công việc mới ở một tổ chức khác với nhiều lợi ích mới mẻ hơn, trong khi 55% cho biết sẵn sàng từ bỏ một công việc mà mình đang hài lòng nếu được một tổ chức khác tiếp cận theo một cách rất sáng tạo và mới lạ.

“Những ý tưởng sáng tạo trong tuyển dụng và quản lý nhân viên rõ ràng khơi gợi rất mạnh mẽ sự tưởng tượng của những người lao động có trình độ chuyên môn cao hiện nay, tạo cho họấn tượng ban đầu khác biệt về nhà tuyển dụng cũng như nhiều hứng khởi và niềm tin vào những điều tốt đẹp về môi trường làm việc trong tương lai. Những người tài quan niệm sự đổi mới bao gồm ba yếu tố: thay đổi, cải thiện và suy nghĩ hướng về tương lai. Họ mong muốn tìm được những tổ chức thể hiện được cả ba yếu tố này ngay từ khi họ tiếp xúc lần đầu tiên” – Byrne Mulrooney, Tổng giám đốc của Futurestep chia sẻ.

“Đối với các công ty toàn cầu, cách giao tiếp với người lao động đã và đang làm việc cho mình cũng như các ứng viên trong tương lai đóng một vai trò ngày càng quan trọng, tác động mạnh đến nhận thức của họ về doanh nghiệp với tư cách là một khách hàng và họ sẽ chia sẻ những quan điểm, nhận thức ấy với bạn bè và người thân của mình”, Mulrooney giải thích thêm.

Futurestep cũng đã thực hiện khảo sát hơn 800 chuyên gia tuyển dụng và quản lý nhân tài trên toàn cầu. Kết quả cho thấy 74% tin rằng tổ chức của họ cần phải thực hiện đổi mới hơn nữa trong lĩnh vực tuyển dụng và quản lý nhân tài, 78% thì cho rằng những đổi mới này chính là chìa khóa để đạt được các mục tiêu tăng trưởng trong toàn bộ tổ chức.

Theo Futurestep, để đổi mới các doanh nghiệp không chỉ cần phải theo dõi những xu hướng mới nhất và thử nghiệm các ứng dụng mới nhất trong truyền thông xã hội vào việc tuyển dụng và quản lý nhân tài mà còn phải áp dụng các kỹ thuật và ý tưởng mới để củng cố văn hóa công ty, cải thiện cách hành xử của nhân viên trong thế giới công việc và từ đó hỗ trợ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh.

Theo Đông Dương (DNSG/HR Magazine)
[Thương HiệuDoanh nghiệp muốn hoạt động ổn định và phát triển thì phải giải quyết các vấn đề pháp luật và kinh tế liên quan đến thương hiệu”. Một người tiêu dùng Việt Nam tiếp nhận khoảng 2.000 thương hiệu khác nhau. Tạo dấu ấn trong một rừng thương hiệu như vậy luôn là bài toán của các doanh nghiệp (DN) dù xây dựng thương hiệu là vấn đề đã cũ.

Ông Richard Moore, Giám đốc Điều hành Sáng tạo Công ty TNHH Richard Moore Associates, cho rằng, thương hiệu là tài sản vô hình của DN, là cảm nhận của khách hàng về một sản phẩm, dịch vụ hay một tổ chức nào đó và góp phần quyết định sự thành bại của DN.

Việc xây dựng thương hiệu không đơn thuần là gắn tên cho sản phẩm, mà nó bao hàm tất cả những gì DN muốn mang đến cho khách hàng thông qua sản phẩm.

DN muốn hoạt động ổn định và phát triển thì phải giải quyết các vấn đề pháp luật và kinh tế liên quan đến thương hiệu.

Xác định được tầm quan trọng của thương hiệu nên hầu hết các DN đều chú trọng xây dựng thương hiệu. Rất nhiều DN đã đầu tư nghiên cứu và xây dựng cho mình một bản sắc thương hiệu riêng.

Theo thống kê chưa đầy đủ, mỗi ngày, một người tiêu dùng Việt Nam tiếp nhận khoảng 2.000 thương hiệu khác nhau.

Có đến 90% DN cho rằng, sản phẩm và dịch vụ của họ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, thế nhưng, chỉ có 10% khách hàng nghĩ như vậy.

ThS. Vương Thanh Long, giảng viên Đại học Văn Lang, cho rằng: “Chưa có nhiều DN biết cụ thể hóa các lợi thế cạnh tranh trong thương hiệu thành các giá trị thực sự đối với khách hàng. Hoặc đôi khi DN chỉ bán cái mình có, chứ chưa tạo ra nhu cầu cho khách hàng”.

Cũng theo nghiên cứu của những người làm marketing, người tiêu dùng chấp nhận trả giá cho thương hiệu quen biết và tin tưởng cao hơn từ 9 - 15% so với thương hiệu xa lạ.

Đây là thách thức không nhỏ cho những người làm thương hiệu. Nếu không thực sự gây được ấn tượng, các thương hiệu sẽ dễ dàng bị lãng quên.


Thế nhưng, điều đáng lo nhất đối với DN trong quá trình xây dựng thương hiệu chuyên nghiệp chính là thiếu chiến lược thương hiệu tổng thể và thiếu sự đầu tư mang tính chiến lược.

Trong khi đó, chiến lược thương hiệu phải được xây dựng dựa trên các nghiên cứu thị trường và các mô hình phân tích chuyên nghiệp.

Nếu nhãn hiệu là tài sản hữu hình thì thương hiệu là một tài sản vô hình, hiện diện trong tâm trí người tiêu dùng.

Thương hiệu do DN xây dựng nên trong một thời gian dài nhưng người tiêu dùng mới là bộ phận quyết định có chấp nhận nó hay không.

Ông Richard Moore cho rằng, ở góc độ thương hiệu, có hai vấn đề cần lưu ý là "bản sắc thương hiệu" và "hình ảnh thương hiệu". Với bản sắc thương hiệu (tên thương hiệu, logo, màu sắc, kiểu chữ, slogan...), DN có thể chủ động tạo lập và kiểm soát 100% cũng như quyết định cách thức sử dụng chúng cho các hình thức truyền thông marketing khác nhau.

Song, hình ảnh thương hiệu chỉ xuất hiện trong tâm trí khách hàng mục tiêu, và việc họ nghĩ gì về thương hiệu của DN lại là do họ cảm nhận.

Khi được xây dựng một cách chiến lược và mang tính sáng tạo, bản sắc nhận diện thương hiệu sẽ là một trong những yếu tố hiệu quả nhất góp phần thiết lập nên hình ảnh thương hiệu mạnh trên thị trường.

Bởi vậy, hệ thống nhận diện thương hiệu đã trở thành một lĩnh vực hoạt động cần được quản lý như các hoạt động kinh doanh khác như nghiên cứu và phát triển, marketing, truyền thông, bán hàngphân phối. Nếu DN khéo léo trong việc sáng tạo và duy trì bản sắc thương hiệu thì hình ảnh tạo lập trong tâm trí người tiêu dùng sẽ càng cao.

"Đường đến một bản sắc thương hiệu mạnh chỉ có một cách duy nhất, đó là sử dụng một cách thông minh những yếu tố nhận diện thương hiệu", ông Richar Moore nói.

Và khi đã có bản sắc thương hiệu, DN cũng phải biết cách truyền thông sao cho nhất quán dưới các hình thức: truyền thông tĩnh (nhận diện thương hiệu), truyền thông động (truyền thông thương hiệu) và truyền thông xã hội (kết nối thương hiệu).

Trong đó, hình thức truyền thông xã hội cần được đặc biệt quan tâm trong môi trường công nghệ thông tin ngày càng phát triển.

Ngoài những phân tích trên, theo ông Long, để xây dựng thương hiệu đọng lại trong lòng người tiêu dùng, DN phải đầu tư, xây dựng một cách bài bản, có hệ thống.

Một chiến lược đầu tư xây dựng thương hiệu hiệu quả có 5 bước: Nghiên cứu thị trường, thu thập thông tin thứ cấp và phân tích môi trường nội bộ; xây dựng tầm nhìn thương hiệu; chiến lược thương hiệu; hệ thống nhận diện thương hiệu và triển khai chiến lược
Hồng Nga - DNSG
[Bán hàng - Đàm phán] Heidi Roizen hiện là một đối tác điều hành tại công ty quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm DFJ. Heidi Roizen từng có nhiều năm hợp tác với ông chủ Apple Steve Jobs.

Từ năm 1983 đến năm 1996, bà từng là người đồng sáng lập kiêm Tổng giám đốc điều hành của Công ty phần mềm T/Maker, công ty chuyên cung cấp phần mềm CP/M và MSDOS cho Apple, nhà phát triển hệ điều hành Mac độc quyền.

Thông qua các cuộc đàm phán trực tiếp với Steve Jobs, Heidi Roizen đã viết trên một số blog cá nhân về những bài học bà rút ra được từ chiến thuậtkỹ năng đàm phán thiên tài mà Steve Jobs đã vận dụng để đưa ông trở thành huyền thoại trong lĩnh vực này.

Heidi Roizen nhớ như in lần gặp gỡ đầu tiên với Steve Jobs đã không mai lại kết quả tốt.

"Sau khi chờ đợi 45 phút tại phòng chờ (điều này, gần như là một “thủ tục” bắt buộc trong hầu hết các cuộc gặp với Steve), tôi được gọi vào phòng làm việc của Steve. Một vài phút sau đó, Steve nhận hợp đồng từ tôi và lướt nhanh xuống nội dung quan trọng nhất - tỷ lệ tiền bản quyền. Tôi đã đề nghị 15%, tiêu chuẩn cao nhất của chúng tôi. Nhưng Steve chỉ vào nó và nói '"15 phần trăm? Thật vô lý. Tôi muốn 50%’", bà nhớ lại.

Heidi Roizen cho biết, bà đã thực sự choáng váng và không biết nói gì khi bị yêu cầu từ bỏ một nửa doanh thu của mình. Trong khi đó, Steve Jobs khá lạnh lùng nói với bà rằng: "Hãy trở lại nếu đồng ý với mức 50%, hoặc không bao giờ trở lại”.

Cuối cùng Heidi Roizen vẫn phải chấp nhận tỷ lệ 50 - 50 nhưng kèm theo một số điều kiện như trừ chi phí bao bì, hỗ trợ kỹ thuật, tiền lương đối với một số nhà phát triển để thực hiện các bản sửa lỗi…

Tính ra, Heidi Roizen vẫn thêm được 6 USD cho mỗi đơn vị “phí xử lý”.

Heidi Roizen cho biết, bà xem đây như một thất bại đầu tiên trong đàm phán với Steve Jobs, nhưng vẫn khâm phục tài nghệ đàm phán của ông.

Từ bài học đàm phán đầu tiên cho đến những lần đàm phán sau này, Heidi Roizen đã rút ra được 3 bài học cơ bản từ nghệ thuật đàm phán của Steve Jobs:


"Tôi đã không làm một việc ngu ngốc chỉ vì tôi đang đứng trước một người nổi tiếng. Trong làm ăn không nên để bị hấp dẫn bởi hào quang của đối tác", Roizen viết.

Đừng để sự quyến rũ của một tên tuổi lớn làm bạn mù quáng trước thực tế kinh doanh. Bạn có thể muốn làm việc với một siêu sao nhưng thỏa thuận cần phải mang lại lợi ích cho cả hai bên, bà khẳng định.


Những kinh nghiệm khi làm việc cùng Steve Jobs đã giúp Heidi Roizen thấy rằng cần có những ứng xử linh hoạt trong các cuộc đàm phán. Bởi vì "đối với mỗi hợp đồng, điều quan trọng là phải nuôi dưỡng được các mối quan hệ đối tác lâu dài cũng như duy trì vị thế trong công ty", Heidi Roizen nói.


Đó là lời khuyên kinh điển được áp dụng trong nhiều trường kinh tế đạt chuẩn, nhưng mãi đến thời điểm Steve Jobs đưa ra yêu cầu rất thực tế, Heidi Roizen mới thực sự thấy được tầm quan trọng của sự nỗ lực để hiểu quan điểm của đối tác.

"Lúc đầu, tôi không thể hiểu yêu cầu của Steve, nhưng sau khi bước ra khỏi phòng làm việc của ông ấy, tôi nhận ra rằng thỏa thuận này thực chất không quan trọng về tiền bạc hoặc tương lai với công ty của tôi, nhưng lại quan trọng đối với Steve để có được 50% ông đã hứa. Vì vậy, tôi thấy không có lý do gì để từ chối một hợp đồng mà cả hai bên đều đang cần", bà giải thích.

H.T (theo Inc)/Bizlive