A Pro Branding design Company

Logos Ads Brand identify designing and consulting

Portfolio

This is what we've been wroking on

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên cứu Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên cứu Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng
[Thương Hiệu] Cách đây hai năm, người ta thấy xuất hiện hệ thống các cửa hàng G7 Mart - một mô hình siêu thị kiểu mới hoạt động trong cả nước, tuy nhiên, gần đây hầu như vắng bóng.

Vào ngày 5/8/2006, việc Công ty cổ phần G7 Mart chính thức công bố có 500 cửa hàng và nhắm tới con số 9500 cửa hàng mang thương hiệu G7 Mart trên toàn quốc được xem là quyết định táo bạo và đầy tham vọng của Trung Nguyên. Lúc đó, nhiều chuyên gia đã dự báo rằng: Trung Nguyên sẽ gặp nhiều khó khăn khi đặt chân lên sàn đấu của các công ty nước ngoài.

Và thực tế đã chứng minh, Trung Nguyên đã thất bại với chiến lược phát triển chuỗi cửa hàng G7 Mart trong toàn quốc. Không chỉ ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, mà ngay cả G7 Mart ở cả các tỉnh thành ít siêu thị cũng có quang cảnh đìu hiu.

Để hiểu hơn về vấn đề này, chúng tôi xin gửi tới độc giả bài phân tích các nguyên nhân dẫn tới thất bại của chuỗi cửa hàng G7 Mart của chuyên gia Nguyễn Thế Khoa, CEO công ty Green Standard.

G7 Mart bị cô lập trên thị trường.

Trong chiến lược phát triển chuỗi cửa hàng G7 Mart khủng của Trung Nguyên có khá nhiều vấn đề bất cập trong việc công bố thông tin, sự trái ngược nhau trong chiến lược phát triển chuỗi G7 Mart và cách làm của Trung Nguyên. Chính điều này đã dẫn tới sự phá sản của chuỗi cửa hàng G7 Mart.

Điểm chết đầu tiên là về tài chính của Trung Nguyên. Chủ tịch Đặng Lê Nguyên Vũ đã tuyên bố sẽ chi mạnh tay hỗ trợ từ 50 tới 200 triệu cho 1 cửa hàng tùy theo quy mô. Như vậy, nếu theo kế hoạch, tổng mức chi thấp nhất của Trung Nguyên phải lên tới con số 475.000.000.000 tỷ VNĐ cho mục tiêu 10.000 điểm bán lẻ G7 Mart.

Số tiền này quá lớn so với số vốn mà G7 Mart có trước đó. Điều này khiến những người trong ngành bán lẻ nghi ngờ vào tính khả thi của chiến lược. Và khi đã nghi ngờ, sự hợp tác sẽ khó dẫn tới thành công.

Trung Nguyên đã thất bại với chiến lược xây dựng chuỗi cửa hàng bán lẻ G7 Mart.

Điểm chết thứ 2 của Trung Nguyên đó là quyết định tham gia cuộc chiến bán lẻ và đối thủ của G7 Mart chính là nhà sản xuất.

Nhóm sản phẩm của Trung Nguyên phân phối đa phần là nhóm hàng thực phẩm, hóa mỹ phẩm, rượu bia, nước giải khát. Đây lại là những mặt hàng đang được các tập đoàn đa quốc gia thống lĩnh thị phần và có chiến lược phân phối chủ động theo thói quen tiêu dùng tại Việt Nam.

P&G, Unilever, Vina Acecook, Masan, Kinh Đô... đều đang thống lĩnh toàn bộ thị trường bán lẻ, trong khi các công ty này đều có hệ thống phân phối và mini shop cung cấp, buôn bán, kinh doanh sản phẩm của mình. Họ đều nhận thức được rằng: hệ thống phân phối chính là điểm quyết định thành bại của công ty.

Do đó, họ đã đổ rất nhiều tiền và công sức vào phát triển hệ thống nhà phân phối. Họ cam kết đưa về lợi nhuận tốt nhất cho nhà phân phối bằng việc đầu tư nhân viên bán hàng tại từng khu vực. Theo đó, nhà phân phối chỉ cần tính toán giá phân phối và lượng hàng về từng khu vực.

Họ cam kết cung cấp đầu vào hàng hóa ổn định, mở điểm bán lẻ tại các mini shop, chứ không hỗ trợ cửa hàng mạnh tay như Trung Nguyên ở mức 50 đến 200 triệu/cửa hàng.

Nhưng các thương hiệu trên lại có chiến lược chăm sóc nhóm phân phối này rất tốt, từ khuyến mãi tới chiết khấu cho cửa hàng. Đồng thời, chỉ ra cho nhóm phân phối này lợi nhuận trước mắt, không những thế, họ còn đầu tư rất mạnh vào nhân sự bán hàng khu vực và hầu như bám sát các mini shop hàng ngày.

Từ đó nâng cao giá trị thương hiệu tích hợp do chuỗi phân phối mang lại, tạo thành 1 hệ thống bán hàng hoàn chỉnh dựa trên thói quen tiêu dùng của Việt Nam khiến Trung Nguyên trở nên bị cô lập.

Đối đầu với các "ông lớn", G7 Mart bị cạnh tranh khốc liệt

G7 Mart là lựa chọn cuối cùng cho nhà sản xuất đang thống lĩnh thị trường ở Việt Nam, chỉ để tăng thêm doanh số. Khi các công ty đã có hệ thống phân phối như thế thì việc bắt tay với G7 chỉ mang tính chất tăng doanh số và tránh tồn kho. Và họ coi trọng nhà phân phối chuyên nghiệp nắm trong tay điểm bán hàng lớn hơn là coi trọng Trung Nguyên.

Trong hợp đồng với nhà phân phối của các nhà sản xuất, có những công ty cam kết cung cấp đủ số lượng hàng tháng trong hợp đồng, nếu không làm đúng cam kết sẽ đền bù theo thiệt hại của nhà phân phối.

Và còn có những điều khoản độc quyền khu vực cho nhà phân phối nhỏ lẻ, điều đó đồng nghĩa G7 Mart khó có thể chen chân vô. G7 Mart sẽ chỉ mua theo dạng hợp đồng bán hàng phát sinh nhỏ lẻ, không được đam bảo bất cứ vấn đề gì về giá và lượng hàng.

Tuy nhiên, với 1 chuỗi phân phối của Trung Nguyên với 500 cửa hàng chẳng thấm tháp vào đâu so với con số 80.000 điểm phân phối lúc đó của Masan hay 100.000 điểm bán lẻ của Unilever. Vậy việc có G7 Mart hay không cũng không quan trọng. Quan trọng là lợi nhuận và lượng hàng cung cấp cho các nhà phân phối đã cam kết với họ.

Chưa kịp "mang chuông" ra thế giới, G7 Mart đã "chết yểu" trên "sân nhà".

G7 Mart không giữ được niềm tin khi không đủ hàng cung cấp cho chuỗi mini shop do mình mở ra. Giá cả phân phối cao hơn so với những nhà phân phối khác khiến G7 Mart mất uy tín với khách hàng và nhà phân phối.

Đại diện G7 Mart, bà Võ Thị Hà Giang, GĐ truyền thông và tiếp thị của Trung Nguyên (đơn vị phát triển G7 Mart) cũng thừa nhận: G7 Mart không thành công là "do các hạn chế về mặt hạ tầng kỹ thuật, nhân sự chuyên môn, công nghệ quản lý... G7 Mart chưa đạt được các bước phát triển tương xứng với sứ mạng cam kết và tiềm năng của thị trường Việt Nam".

Đầu năm vừa qua, bà Giang tuyên bố: Coi G7 Mart đóng cửa cũng được, mở cửa cũng được vì Trung Nguyên đang hợp tác với Ministop của Nhật bản phát triển ở Việt Nam. Đồng nghĩa với việc Trung Nguyên chính thức tham gia cuộc chiến bán lẻ đúng nghĩa.

Nhưng con đường cho sự hợp tác này cần có sự tỉnh táo từ phía Trung Nguyên khi hiện nay Saigon Coop đang dẫn đầu thị trường bán lẻ chuỗi khi chiếm tới 50% thi trường bán lẻ Việt Nam và liên tục gia tăng khoảng cách.

Seven Eleven đang chuẩn bị vào Việt Nam và 2 nhà bán lẻ châu Âu sẽ có mặt trong thời gian sớm nhất khi Việt Nam thành đối tác trong hiệp định TPP. Điều này sẽ hứa hẹn một thị trường cạnh tranh khốc liệt hơn trước rất nhiều.

Theo Soha.
Thương Hiệu - Theo thống kê của VnExpress.net và số liệu của Công ty Chứng khoán VnDriect, hiện trên 2 sàn chứng khoán Hà Nội (HNX) và TP HCM (HOSE) có khoảng 700 doanh nhân giữ chức danh Chủ tịch HĐQT của các công ty niêm yết, và mang gần 60 họ khác nhau. Trong đó, những người mang họ Nguyễn, Trần, Lê, Phạm chiếm hơn một nửa tổng số lãnh đạo cao nhất.

Gần 200 doanh nhân họ Nguyễn làm chủ tịch HĐQT các công ty niêm yết. Trong khi đó đại diện các họ Trần, Lê, Phạm, Đỗ, Vũ, Bùi thay nhau đứng đầu 260 doanh nghiệp khác.

Chiếm khoảng 32% số người giữ chức danh Chủ tịch HĐQT, nhiều doanh nhân mang họ Nguyễn đang nắm những doanh nghiệp niêm yết lớn nhất trên sàn chứng khoán. Chẳng hạn, ông Nguyễn Đăng Quang - Công ty cổ phần Masan (Mã CK: MSN), một trong những doanh nghiệp lớn nhất trong lĩnh vực hàng tiêu dùng. Bà Nguyễn Thị Mai Thanh - Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (Mã CK: REE), một trong những Người tiên phong năm 2012 theo bình chọn của VnExpress.net. Ông Nguyễn Văn Đạt – Công ty cổ phần Phát triển Bất động sản Phát Đạt (Mã CK: PDR), một trong 10 người giàu nhất sàn chứng khóan Việt Nam 2012. Hay ông Nguyễn Hòa Bình - Chủ tịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank, Mã CK: VCB), một trong những nhà băng lớn nhất Việt Nam…
Từ trái qua phải, ông Nguyễn Hòa Bình, ông Nguyễn Đăng Quang, bà Nguyễn Thị Mai Thanh, ông Nguyễn Văn Đạt.

Với khoảng 70 người đứng đầu các doanh nghiệp niêm yết, chiếm tỷ lệ 10%, những doanh nhân họ Trần cũng không thiếu những nhân vật nổi bật. Ví dụ như ông Trần Bắc Hà – Ngân hàng cổ phần Đầu tư Phát triển Việt Nam (BIDV), ông Trần Hùng Huy – Ngân hàng cổ phần Á Châu Việt Nam (ACB), ông Trần Đình Long - Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát (Mã CK: HPG). Ông Trần Kim Thành – Công ty cổ phần Kinh Đô (Mã CK: KDC). Ông Trần Xuân Kiên - Công ty cổ phần Thế giới số Trần Anh (Mã CK: TAG), hay ông Trần Bá Phúc - Công ty cổ phần Nhựa thiếu niên tiền phong (Mã CK: NTP)…
Từ trái qua phải, Trần Bắc Hà, ông Trần Hùng Huy, ông Trần Đình Long, ông Trần Kim Thành.

Họ Lê chiếm 8% số doanh nhân giữ chức vụ Chủ tịch HĐQT trên sàn chứng khoán cũng gồm nhiều nhân vật tên tuổi. Như ông Lê Hữu Đức - Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (Mã CK: MBB), ông Lê Hùng Dũng - Ngân hàng cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Mã CK: EIB), ông Lê Quang Bình – Tập đoàn Bảo Việt (Mã CK: BVH). Ông Lê Phước Vũ – Công ty cổ phần Tập đoàn Hoa Sen (Mã CK: HSG). Ông Lê Vĩnh Sơn - Công ty cổ phần Quốc tế Sơn Hà (Mã CK: SHI). Ông Lê Văn Quang - Công ty cổ phần Thủy sản Minh Phú (Mã CK: MPC) hay ông Lê Vũ Hoàng - Công ty cổ phần Đầu tư hạ tầng kỹ thuật TP HCM (Mã CK: CII) .
Từ trái qua phải, ông Lê Hùng Dũng, ông Lê Hữu Đức, ông Lê Phước Vũ, ông Lê Quang Bình.

Với trên 50 doanh nhân giữ chức Chủ tịch HĐQT, họ Phạm cũng gồm nhiều doanh nhân nổi bật trong các lĩnh vực khác nhau. Ví dụ, bà Phạm Thị Việt Nga – Công ty cổ phần Dược Hậu Giang (Mã CK: DHG), ông Phạm Nhật Vượng – Công ty cổ phần Tập đoàn Vingroup (Mã CK: VIC), ông Phạm Huy Hùng - Ngân hàng cổ phần Công Thương Việt Nam (Vietinbank, Mã CK: CTG), ông Phạm Hữu Phú – Ngân hàng cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, Mã CK: STB), ông Phạm Quang Vũ - Công ty cổ phần Vinacafe Biên Hòa (Mã CK: VCF), bà Phạm Minh Hương - Công ty cổ phần Chứng khoán VnDirect (Mã CK: VND)...
Từ trái qua phải, ông Phạm Huy Hùng, ông Phạm Nhật Vượng, ông Phạm Hữu Phú, bà Phạm Thị Việt Nga.

Theo thống kê của ngành xã hội học, hiện những người mang họ Nguyễn chiếm khoảng 38% dân số Việt Nam, tiếp theo là các họ Trần (12%), Lê (9,5%), Phạm (7%). Do đó, theo ông Nguyễn Văn Thịnh - Phó giám đốc thường trực Trung tâm UNESCO Văn hóa Gia đình và Dòng họ Việt Nam, việc có khoảng 28% những người mang họ Nguyễn là lãnh đạo cao cấp của các doanh nghiệp không phải là chuyện "đột biến".

Ngoài ra, theo chuyên gia này, những con số thống kê về họ hiện nay chỉ là bề nổi trên chứng minh thư, còn người thực sự mang họ nào, dòng nào thì rất khó biết. "Lịch sử Việt Nam trải rất dài và nhiều biến động, nên người của dòng họ này chuyển sang họ khác rất nhiều. Ví dụ sau khi đánh thắng quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã ép khá nhiều người chuyển sang dòng họ Nguyễn. Họ này vì thế rất phổ biến về sau", ông giải thích.


Tuy vậy, thống kê kết quả kinh doanh quý I/2013 cho thấy, tỷ lệ các doanh nghiệp thua lỗ so với số công ty có lãi tại những đơn vị có chủ tịch HĐQT mang họ Trần là cao nhất, với 40%. Họ Vũ đứng thứ 2, với tỷ lệ 29%. Những ông chủ mang họ Nguyễn quản lý công ty khá tốt, khi xếp thứ 3. Còn quản trị tốt nhất, là hai họ Lê và Đỗ, khi số doanh nghiêp lỗ chỉ bằng 14% so với số công ty làm ăn có lãi.

Uyển Nhi - VnExpress
Học Marketing - Gặp người Việt Nam sang du lịch ở Mỹ, bà con Việt kiều hay rủ đi mua sắm ở Walmart. Theo người tiêu dùng ở Mỹ, Walmart là hệ thống siêu thị “luôn có giá rẻ”, dễ mua nên luôn có đông người mua sắm nhất. Song, dạo quanh Walmart ở nhiều bang tại Mỹ, thấy hàng Việt Nam hiếm quá. Khi chúng tôi thông tin Walmart đang xúc tiến tìm nguồn hàng ở Việt Nam, nhiều người tiêu dùng ở Mỹ chia sẻ khả năng thâm nhập của hàng Việt Nam.

Anh Brian Monila, một kỹ sư phần mềm ở McKenny (Texas) rất mừng khi tôi tặng hộp càphê Legendee của Trung Nguyên. Anh nói anh ghiền càphê Trung Nguyên đã 5 – 6 năm, hay uống loại “số 5” ở các chợ Việt Nam. Cách nay sáu tháng, vợ anh từ Việt Nam về có mua tặng anh hộp càphê Legendee mà chị được giới thiệu là “dành cho người sành uống càphê”. Anh dùng thử, thấy ngon thật và mỗi lần pha, anh không dám cho nhiều càphê vì sợ hết.

Có dấu ấn Việt Nam trong người tiêu dùng Mỹ

Brian Monila tự tay chế biến cá, thịt hun khói, khi ăn, anh mang ra chai tương ớt Huy Fong. Tương ớt Huy Fong tuy sản xuất ở Mỹ nhưng do một người Việt Nam làm. Anh bảo tương ớt và nước mắm là hai loại gia vị của Việt Nam mà lúc nào trong nhà anh cũng có, vì nhiều món dù ăn theo Tây nhưng có thêm chút tương ớt hay nước mắm thì hương vị thơm ngon hơn.

Hẹn chúng tôi ăn trưa ở quán phở Cường (Oklahoma), ông D. Keith tâm sự ông rất thích phở, chả giò và trái cây Việt Nam. Ông có gia đình người bạn thân ở Biên Hoà, mỗi lần ông sang Việt Nam là họ đãi ăn nhiều loại trái cây ngon. Riêng ở Biên Hoà, ông nhớ loại bưởi Tân Triều nổi tiếng. Ông bảo bưởi trong các siêu thị ở Oklahoma bán chẳng thể nào sánh với bưởi Việt Nam, nên ông không bao giờ mua. Ông rất thích dùng quế để làm gia vị cho một số món ăn, nhưng phải đúng quế của Việt Nam mà tìm không thấy ở siêu thị tại Mỹ.

Ông John Nga sống ở Long Island (New York) – nơi có rất ít người Việt Nam – cũng nhìn nhận trước đây các siêu thị ở Mỹ bán rau không đáng kể nhưng dường như thói quen ăn rau nhiều của người Việt Nam đã ảnh hưởng đến tiêu dùng ở Mỹ. Trong các siêu thị đã bán nhiều loại rau, nấm, thậm chí siêu thị có ít người Việt Nam mua sắm cũng có rau lang, rau dền. Ở các nơi bán đồ làm vườn giờ luôn có những chậu rau húng lủi, rau quế, ớt hiểm... cho người ta mang về nhà trồng. Hạt điều, hạt sen sấy, mít sấy, xoài sấy của Việt Nam mang sang, không chỉ người Việt mà người Mỹ chính gốc hay gốc Âu, gốc Phi đều thích, khen ngon, nhưng muốn ăn nữa chắc phải gửi mua từ Việt Nam.

Hàng Việt Nam không thiếu ở Mỹ, nhưng hiếm ở Walmart

Sang định cư ở Houston (Texas), gia đình anh Đoàn Hùng vẫn giữ thói quen ăn uống như ở Việt Nam bởi thực phẩm Việt Nam không thiếu thứ gì trong các chợ do người Việt hay người Hoa làm chủ ở Houston. Ông D. Keith là người Mỹ cũng nói khi thích những món Việt Nam, ông thường tìm ở các siêu thị của người Việt. Điều mà những người Việt Nam cũng như người tiêu dùng khác đang sinh sống tại Mỹ lấy làm tiếc là hàng Việt Nam quá hiếm hoi trong các đại siêu thị ở Mỹ.

Chúng tôi vào những chợ như Cao Nguyên ở Oklahoma; Nha Trang, Biên Hoà ở Virginia. Người Việt gọi là chợ nhưng hình thức trưng bày như siêu thị, bảng hiệu thường có từ “market” theo tên siêu thị, bán phần lớn là thực phẩm từ tươi sống đến hàng chế biến, một số hàng tiêu dùng. Ở những nơi này, 70% hàng hoá là hàng Việt Nam hoặc ghi nhãn bằng tiếng Việt.

Nói riêng về hàng thực phẩm chế biến công nghiệp có hàng sản xuất từ Việt Nam xuất sang như càphê Trung Nguyên, Vinacafé; bún tươi của công ty Lucky Sing ở Bến Lức – Long An; bánh hỏi, bánh tráng Mỹ Tho của Thuận Phong – Tiền Giang; bánh tráng May của Trương Hiệp Thạnh ở Bến Lức; miến đậu xanh của công ty cổ phần Bích Chi; miến Vifon; nước tương con mèo đen Nam Dương; nước màu Bến Tre, mắm ruốc chà, mắm cá lóc của Thăng Nguyên; bột làm bánh của Vĩnh Thuận và Mikko; trà thảo mộc Hùng Phát... Có hàng cho người Việt Nam nhưng sản xuất ở Mỹ như bún bò Huế, bánh tráng ba cô gái của Vĩnh Sanh, nước mắm Phú Quốc của Việt Hương, tương ớt Huy Fong, sữa Ông Thọ; nước súp bún riêu, nước súp bò, nước phở… chữ Việt nhưng sản xuất Thái Lan, đóng gói ở Washington D.C…

Sang siêu thị Walmart, chúng tôi thấy hàng Việt Nam hầu như chỉ có hàng may mặc, kế đến là thuỷ sản, nhưng chỉ là “made in Việt Nam” chứ không có nhãn hàng chính thức của Việt Nam, quá ít ỏi trong hàng chục ngàn mặt hàng của Walmart. Nhiều người Việt Nam sinh sống ở Mỹ khi mua quần áo đã sẵn sàng ủng hộ hàng “made in Việt Nam” cho dù nó được bán dưới nhãn hiệu nào.

Hàng Việt vào Walmart: chú ý sức chịu về giá

Theo những người tiêu dùng tại Mỹ, do nhu cầu của người Việt Nam và sự thay đổi khẩu vị của người Mỹ gốc Á, Âu, Phi (với số lượng cư dân ngày càng tăng ở Mỹ) có xu hướng thích món ăn Việt Nam nên những siêu thị do người Việt hay người Hoa làm chủ nhập khẩu ngày càng nhiều loại thực phẩm Việt Nam. Sự phát triển du lịch, nhiều người Mỹ sang Việt Nam cũng tìm thấy nhiều hàng may mặc, thủ công mỹ nghệ, đồ dùng trong nhà mà họ thích do giá rẻ, đẹp nên có dành cảm tình với hàng Việt Nam. Walmart không thể bỏ qua thị phần lớn từ những người Mỹ gốc Á, Âu, Phi mang lại, nên họ tìm kiếm nguồn hàng ở Việt Nam là điều tất yếu.

Không biết tiêu chuẩn chọn lựa của Walmart đối với hàng Việt Nam sẽ như thế nào, nhưng người tiêu dùng tại Mỹ cho rằng với hơn 4.000 cửa hàng tại Mỹ và hơn 3.000 cửa hàng ở 16 quốc gia khác, mang về cho Walmart doanh thu trên 400 tỉ USD mỗi năm, thì đưa được hàng vào hệ thống này, doanh nghiệp sẽ có lượng tiêu thụ lớn. Tuy nhiên, phương châm kinh doanh của Walmart là “luôn có giá rẻ” cho người thu nhập trung bình, nên điều quan trọng là làm sao có giá rẻ mà chất lượng tốt để hàng Việt Nam được chọn trong sự cạnh tranh gay gắt với hàng từ các nước sản xuất khác, đang và sẽ cung cấp cho Walmart. Mặt khác, có thể hàng Việt Nam sẽ phải chấp nhận chỉ xuất hiện “made in Việt Nam” dưới tên nhãn hàng khác.

Một điều khác mà người tiêu dùng tại Mỹ nhận xét là ít khi họ thấy hàng hoá trong Walmart tăng giá, nên doanh nghiệp Việt Nam cần chú ý chiến lược về giá ổn định lâu dài, đừng mong cơ hội tăng giá bán khi hàng được tiêu thụ nhiều.

Theo nhiều người tiêu dùng, doanh nghiệp Việt Nam sản xuất rau quả nhiệt đới nếu có quy trình sản xuất tốt nên mạnh dạn tiếp xúc với Walmart, vì nhu cầu này ở Mỹ rất cao mà hiện có nhiều thứ Walmart chưa đáp ứng được hoặc có thì giá gấp nhiều lần giá bán tại Việt Nam mà hương vị không bằng.

Theo Các Ngọc- SGTT
Đồ thị xu hướngHọc marketing - Theo đánh giá này, chi tiêu cho các đồ chơi công nghệ đã "cất cánh" trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21. Cụ thể, chi phí cho điện thoại tăng 17% mỗi năm trong giai đoạn từ 2000 đến 2011.

Hãng tin Bloomberg công bố danh sách những xu hướng tiêu dùng ngày càng trở nên phổ biến hoặc đang biến mất dần...

Ở chiều ngược lại, xăng, dầu đang bị cắt giảm chi tiêu mạnh nhất. Sau đây là 10 xu hướng tiêu dùng đang ngày càng trở nên phổ biến:

10. Nội thất và trang trí nội thất

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 111,8 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 162,9 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 3,48%

9. Đồ thủy tinh, bộ đồ ăn và đồ để đựng

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 31,6 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 46,8 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 3,63%

8. Viễn thông*

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 153,0 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 233,0 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 3,90%

*Viễn thông, bưu chính, dịch vụ giao nhận, truy cập Internet 

7. Trang, thiết bị chăm sóc sức khỏe

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 34,0 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 52,1 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 3,96%

6. Dược phẩm

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 189,3 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 292,3 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 4,03%

5. Súng ống và đạn dược

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 36,1 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 58,6 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 4,50%

4. Giải trí

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 85,5 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 153,2 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 5,45%

3. Túi ví

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 11,6 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 28,4 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 8,48%

2. Thiết bị âm thanh, hình ảnh*

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 76,6 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 411,8 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 16,52%

*Video, audio, chụp ảnh, thiết bị thu thập thông tin và truyền thông

1. Thiết bị điện thoại

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 3,3 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 19,4 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 17,47%

Và tiếp đến là 10 xu hướng tiêu dùng đang dần bị cắt giảm chi phí

10. Dụng cụ sửa chữa nhà cửa

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 56,3 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 53,6 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: -0,45% 

9. Linh kiện, phụ tùng ôtô, xe máy

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 45,2 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 42,8 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: -0,49% 

8. Bảo hiểm

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 260,7 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 240,2 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: -0,74%

7. Vận tải công cộng

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 72,7 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 66,9 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: -0,75%

6. Phương tiện thể thao

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 35,7 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 31,7 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: -1,07% 

5. Dịch vụ sửa chữa xe cộ

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 213,4 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 182,0 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: -1,44% 

4. Sách giáo dục

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 11,8 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 9,5 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: -1,95%

3. Thực phẩm

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 0,4 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 0,3 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: -2,58%

2. Thuốc lá

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 80,3 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 57,8 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: -2,94% 

1. Xăng, dầu

Tổng chi tiêu cho năm 2000: 26,3 tỷ USD

Tổng chi tiêu cho năm 2011: 14,3 tỷ USD

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: -5,39%

Người tiêu dùng Việt NamThương Hiệu - Thực phẩm và nước giải khát có khả năng vẫn là hai ngành tăng trưởng cao nhất trong năm 2013. Đây là nhận định của bà Mai Thị Tuyết Hoa, Giám đốc Nghiên cứu người tiêu dùng (NTD) thuộc Công ty Nielsen chuyên nghiên cứu thị trường.

Giảm mua sắm, tiết kiệm tiền thừa

- Có dấu hiệu nào cho thấy sự lạc quan của NTD trong chi tiêu năm 2013 không, thưa bà?

Lúc này chưa thể trả lời được, phải chờ kết quả khảo sát về niềm tin của NTD vào quý I-2013. Tuy nhiên, kết quả từ quý IV-2012 đã cho thấy mức độ tự tin của NTD không khác mấy so với hồi quý III.

- Vậy xu hướng tiêu dùng năm nay có gì khác so với 2012?

Các dự báo kinh tế đều cho rằng mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2013 có phần lạc quan hơn nhưng không khác biệt nhiều so với năm 2012. Do đó, xu hướng tiết kiệm tiêu dùng cũng diễn biến tương tự.

Cụ thể, kết quả khảo sát niềm tin NTD quý IV-2012 cho thấy NTD chú trọng tiết kiệm lượng tiền thừa, giảm mua sắm sản phẩm không thiết yếu như quần áo mới, giải trí ở ngoài, hoãn nâng cấp sản phẩm điện tử (máy tính, điện thoại), hoãn cải tạo/trang trí nhà ở, giảm chi phí điện thoại, du lịch... Họ quan tâm đến giá trị sử dụng hơn là giá cả sản phẩm, chuyển sang dạng gói lớn để tiết kiệm và hướng đến sản phẩm cao cấp vì thời gian dùng lâu hơn, giá trị cao hơn. Đặc biệt, NTD rất quan tâm đến chương trình khuyến mãi và xu hướng này sẽ không thay đổi nhiều.

- Trước xu hướng NTD ngày càng tiết kiệm, bà có lời khuyên nào dành cho các doanh nghiệp (DN)?

Các nhà sản xuất cần đưa ra mức giá đúng để tôn vinh giá trị mà nhãn hiệu đem lại cho NTD. Nếu muốn tăng giá (vì chi phí đầu vào tăng), phải tìm hiểu kỹ mức độ nhạy cảm về giá và phản hồi của NTD đối với các mức tăng khác nhau, từ đó xác định mức tăng giá nào phù hợp nhất. DN nên đưa ra các chương trình khuyến mãi mang ý nghĩa quan tâm, am hiểu và giúp đỡ NTD trong tình hình hiện nay.

Cần tìm hiểu và nghiên cứu kỹ tâm lý của NTD trong từng ngành hàng bởi đối với những ngành hàng khác nhau quan niệm về giá trị của NTD cũng sẽ khác. DN đừng quên tiếp tục truyền thông để củng cố niềm tin, để nhãn hiệu luôn ở trong tâm trí NTD. Khi kinh tế khởi sắc, chính những nhãn hiệu biết cách xây dựng niềm tin và lòng trung thành nơi NTD sẽ có đà phát triển mạnh mẽ nhất.

- Hiện nay, hầu hết các nhà bán lẻ đều tung ra chương trình khuyến mãi để kích thích sức mua. Đây có phải là một giải pháp tốt để cải thiện tình trạng sức mua tiêu dùng?

Dĩ nhiên đây là một giải pháp tốt vì nó đánh đúng tâm lý của NTD trong giai đoạn kinh tế hiện nay. Chương trình khuyến mãi được xem là sự thể hiện quan tâm của các nhà sản xuất và bán lẻ đến NTD. Điều cần lưu ý là ngoài ý nghĩa và giá trị cộng thêm, chương trình khuyến mãi cần phải thể hiện đúng tinh thần và giá trị cốt lõi của các nhãn hiệu với NTD.

Chọn sản phẩm tiện lợi, xứng giá trị đồng tiền

- Ngành hàng nào có nhiều triển trọng lên ngôi trong năm nay?

Ngành hàng tiêu dùng nhanh (thực phẩm chế biến, nước giải khát, bột giặt...) được dự báo tiếp tục tăng trưởng tốt trong năm 2013. Khi được hỏi về kỳ vọng tăng trưởng, hơn 2/3 nhà lãnh đạo các công ty trong ngành tham gia đều kỳ vọng tốc độ tăng trưởng đạt mức hai chỉ số (trên 10%).

- Còn những ngành hàng như may mặc, giải trí, công nghệ… nên làm thế nào để tiếp tục phát triển?

Về ngắn hạn, các công ty trong các ngành hàng này cần kiên trì làm cho NTD hài lòng khi đưa ra các sản phẩm hoặc dịch vụ mới, có giá trị cộng thêm rõ rệt. Ví dụ như sản phẩm giúp tiết kiệm chi tiêu (như tiết kiệm điện) sẽ được ưa chuộng hơn.

Việc tiếp tục quảng cáo, truyền thông sản phẩm dịch vụ của những ngành hàng này rất quan trọng, nhằm duy trì niềm tin của NTD với nhãn hiệu và thúc đẩy nhu cầu tiêu xài. Khi cẩn trọng chi tiêu, NTD thường hướng về nhãn hiệu uy tín, đảm bảo chất lượng. Đối với sản phẩm công nghệ, các nhà sản xuất và chuỗi cửa hàng bán lẻ nên giúp cho NTD lựa chọn dễ dàng, đưa ra quyết định đúng đắn thông qua việc cung cấp chính xác, đầy đủ thông tin của ba yếu tố quan trọng: chất lượng, uy tín nhãn hiệu và giá cả/giá trị cho đồng tiền bỏ ra.

Xét về dài hạn, Việt Nam vẫn là thị trường tiềm năng cho các mặt hàng giải trí, may mặc, công nghệ… bởi phân khúc NTD trung lưu (Middle Class Consumers, theo định nghĩa toàn cầu) ngày càng mở rộng. Tổ chức Hợp tác Phát triển kinh tế (OECD) dự đoán Việt Nam có 4 triệu người thuộc tầng lớp trung lưu, con số này sẽ tăng hơn năm lần vào năm 2020 và 12 lần vào năm 2030.

- Như vậy, xu hướng mua sắm tiêu dùng năm nay sẽ như thế nào, thưa bà?

Các mặt hàng tiêu dùng nhanh, đặc biệt là thực phẩm và nước giải khát, tiếp tục tăng trưởng tốt vì NTD vẫn ưu tiên chi tiêu hàng đầu cho các mặt hàng thiết yếu, trong khi có thể thắt lưng buộc bụng đối với mặt hàng xa xỉ như quần áo, giày dép, công nghệ. Thực phẩm và nước giải khát cũng là hai ngành hàng có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong năm 2012.

Việc mua sắm ở kênh bán lẻ hiện đại (chủ yếu là siêu thị) sẽ tiếp diễn, vì NTD muốn tìm kiếm sự yên tâm về chất lượng sản phẩm, cũng như sự bình ổn về giá.

Hơn nữa, theo nghiên cứu về hành vi mua sắm hằng năm, Việt Nam dẫn đầu khu vực châu Á-Thái Bình Dương về mức độ quan tâm đến khuyến mãi. Số liệu đo lường bán lẻ của Nielsen cho thấy vào cuối năm 2011, kênh bán lẻ hiện đại đóng góp gần một nửa (43%) tổng giá trị bán lẻ các mặt hàng tiêu dùng nhanh ở TP.HCM và gần 1/3 (27%) ở Hà Nội. Tỉ lệ này được dự tính còn tăng nữa khi các nhà bán lẻ đang có xu hướng mở rộng kinh doanh.

Khuynh hướng tìm kiếm giá trị cho đồng tiền bỏ ra ngày càng quan trọng. NTD mỗi lúc một thông minh hơn trong mua sắm và kỹ càng hơn trong chi tiêu. Năm 2012, nhiều NTD tại Việt Nam “tiết kiệm” hơn so với năm ngoái (66% so với 60% vào quý II-2012). Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là NTD đơn thuần tìm kiếm các sản phẩm rẻ tiền. Giá trị ở đây được hiểu là chất lượng phải tương xứng với đồng tiền bỏ ra. Số liệu đo lường bán lẻ của Nielsen vẫn cho thấy phân khúc cao cấp tăng trưởng khá tốt ở một số ngành hàng như bia, bánh ngọt, dầu gội và nước xả vải.

Đặc biệt, khuynh hướng tìm kiếm sự tiện lợi đã được các nhà sản xuất lưu ý. Có nhiều dòng sản phẩm tăng trưởng tốt vì đem lại lợi ích cho NTD như sản phẩm gia vị hoàn chỉnh hay loại chai PET của ngành hàng nước giải khát...

- Xin cảm ơn bà. 
Theo Pltphcm
Dự án bất động sản Việt Nam
[Tiếp thị bất động sản] Khi viết cuốn “Ai là người giàu nhất Việt Nam?”, tôi có một thuận lợi là hầu hết những người giàu ở nước mình đều coi tôi như bạn bè vì họ tài trợ cho các cuộc thi lớn do báo Tiền Phong tổ chức, trong đó có cuộc thi hoa hậu.

Chính nhờ thuận lợi này nên tôi có điều kiện hiểu sâu hơn về họ. Ngoài chân dung những người làm ăn phát đạt, tôi đã dành nhiều thời gian để tìm hiểu về cách thức làm ăn, tìm hiểu xem họ làm giàu từ đâu? Tôi cũng tìm hiểu thêm về các tỷ phú, những người siêu giàu trên thế giới để từ đó so sánh ở Việt Nam ta làm ăn có khác với họ không?

Giàu nhanh, sa sút cũng nhanh

Nhiều dự báo của tôi cũng như các chuyên gia qua các bài viết về người giàu Việt Nam, nhất là về bất động sản xem ra là đúng với hiện nay!

Tuy nhiên, ở xứ ta, câu trả lời thật chính xác về nguyên nhân làm giàu của họ, họ làm giàu từ đâu là rất khó.

Bởi nhiều người giàu không lên sàn, cả những người đã lên sàn chứng khoán cũng luôn có sự biến đổi, luôn có sự chuyển đổi từ lĩnh vực này qua lĩnh vực khác, khó xác minh. Đó là chưa kể sự thiếu minh bạch vốn đang tồn tại dai dẳng ở nước ta mà công luận đang lên tiếng.

Ngay cả các thứ đã công khai, các số liệu, các loại thông tin, cả thông tin chính thống nhiều khi cũng chỉ đúng một phần.

Số liệu thống kê của 30 người giàu nhất Việt Nam trên sàn chứng khoán có trên 26% từ đất đai.

Như vậy, gần 1/3 người giàu ở Việt Nam hoàn toàn từ bất động sản. Đó là chưa tính những người có một phần, hay một nửa từ đất đai. Nếu tính chuẩn, tính hết, có thể nói hai phần ba người giàu ở nước ta là từ đất, từ “ông thần thổ địa” một thời bị lãng quên.

Sở dĩ năm qua có nhiều đại gia giảm tài sản (trên sàn) đến mấy chục phần trăm cũng là do thị trường bất động sản đóng băng, hạ giá rất nhiều vẫn ít người mua. Đây là lĩnh vực giàu lên rất nhanh, cũng là lĩnh vực sa sút nhanh, thậm chí có nhiều người bị phá sản, rơi vào cảnh nợ nần...

Như tôi đã nhiều lần nói đến, suốt một thời gian dài, do chiến tranh, do cơ chế quan liêu bao cấp, do triết lý “kinh tế tiểu nông hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản...”, mà một thời ta coi tư bản như kẻ thù, nên ăn cơm tập thể, ở nhà lắp ghép tập thể do nhà nước phân phối, đất đai là của hợp tác, dần dần trong tư duy của người dân, đất đai chẳng để làm gì...

Cho đến khi công cuộc đổi mới bắt đầu, công nhận tư hữu, chủ trương kinh tế nhiều thành phần (chứ không phải chỉ có một thành phần là tập thể, là công hữu về tư liệu sản xuất).

Làm giàu một cách bền vững

Đó là thời điểm vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước, khi mà hàng triệu người còn ngơ ngác trước một cơ chế mới mà ta gọi là “cơ chế thị trường”, hầu như tất cả đang ở trên những căn hộ tập thể nhiều tầng với các dãy “chuồng cọp”, chưa kịp nhìn xuống đất, chưa kịp nhớ tới việc ngàn đời nay ông cha ta thường nói về một “mảnh đất cắm dùi” mà nhiều năm qua không ai dám nói đến...

Chính vào thời điểm đó một số người có đầu óc nhạy bén, có một ít tiền tích luỹ được (nhiều người tích lũy từ nước ngoài) liền nghĩ tới đất đai. Mua đất, mua nhà, lấp ao, san vườn... với giá rất rẻ, còn rẻ như cho.

Tiếp đến là biến những khu đất “vàng” ở trung tâm thành phố mà trước đó là khuôn viên nhà máy, xí nghiệp, hay các chung cư cũ nát... thành khách sạn siêu thị, thành các tòa nhà hiện đại để cho các công ty nước ngoài, hay tập đoàn trong nước thuê, hoặc bán đứt cho các ngân hàng, các cơ sở kinh doanh...

Phải nói rằng nhiều người giàu ở ta làm ăn chính đáng, kể cả họ làm giàu từ đất đai, từ bất động sản. Nhưng, cũng có không ít người như báo chí đã đưa tin, họ thiếu trung thực, họ lươn lẹo, ma mãnh thậm chí lừa đảo trong làm ăn, dùng nhiều thủ đoạn bất chính mà công luận đã lên tiếng phản ứng.

Khi có chủ trương cho phân lô, bán nền, các nhà đầu tư bất động sản liền ồ ạt xây nhà ở, xây chung cư cao cấp, vì chỉ cần đầu tư ban đầu, chỉ cần san, lấp được cái nền và có bản vẽ “Khu nhà tương lai” là người ta đổ xô nhau mua.

Mua không phải để ở mà để đầu cơ vì ai cũng nghĩ rằng “người thì ngày càng đẻ thêm nhưng đất đai vẫn vậy...”. Dẫn đến tình trạng giá đất, giá nhà đội lên cao vùn vụt...

Bởi vậy, khi thị trường bất động sản đóng băng, nhiều biệt thự nói như một số bài báo là “biệt thự triệu đô cho... chuột ở”.

Làm ăn từ các dự án “nuốt dân” khó bền vững

Ngoài nhiều dự án của nhiều chủ đầu tư làm ăn chính đáng, cũng không ít dự án tiêu cực. Do “cơ chế” về đất đai ở nước ta còn rất nhiều kẽ hở, nên đã xuất hiện nhiều dự án mà báo chí gọi là “dự án nuốt đất của dân”, tức là biến đất đai - tài sản công thành tài sản tư một cách “hợp pháp”.

Đó là những người biết chớp “thời cơ” khi đất đai còn rẻ, còn sẵn, còn xin cho... để kiếm lời. Nhưng, cái gì cũng vậy, đã có thời cơ thì ắt có lúc mất thời cơ. Thời cơ không vĩnh viễn tồn tại.

Và thực tế đã xảy ra trong năm qua khi bất động sản giảm giá thê thảm, hay nói đúng hơn là đã trở về với giá thực như các chuyên gia về lĩnh vực này phát biểu trên báo chí.

Xem kỹ thống kê 100 gia đình giàu nhất Việt Nam thì thấy: họ giàu lên từ bất động sản là chủ yếu.

Thứ hai là từ tài chính, ngân hàng.

Thứ ba là khai thác, chế biến khoáng sản, hải sản...

Thứ tư là dịch vụ.

Cuối cùng mới là thông tin, truyền thông.

Ta thử nhìn rộng ra thế giới ngày nay xem những người giàu, siêu giàu từ đâu?

Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tổ chức ở Davos (Thụy Sỹ) tháng 1/2012, khi người ta thống kê những người siêu giàu và xem họ làm giàu từ đâu thì thấy công nghệ và viễn thông là đầu tiên.

Đó là ngành làm giàu lớn nhất của những người siêu giàu trên thế giới.

Thứ hai là khai thác tài nguyên thiên nhiên.

Thứ ba là buôn bán (bán lẻ).

Thứ tư là ngành tài chính, đầu tư.

Ít có những người siêu giàu từ bất động sản.

Điều này khiến ta suy nghĩ hay không? Những người giàu trên thế giới ngày nay luôn gắn với những sản phẩm nổi tiếng (máy bay, tầu thủy, các loại xe ôtô, các loại máy tính, điện thoại di động...) gắn với khoa học, với công nghệ tiên tiến.

Họ làm giàu chủ yếu từ chất xám. Đúng ra là biết phát huy chất xám của những người tài. Ta hãy lấy ví dụ người giàu nhất nước Mỹ, tỷ phú Bill Gates. Sản phẩm của ông là hãng máy tính nổi tiếng Microsoft.

Còn người giàu nhất Hàn Quốc là ông chủ của hãng Samsung, ông Lee Kun Hee. Tên tuổi của Samsung gắn với các loại tivi, máy tính, máy điều hòa nhiệt độ, điện thoại di động nổi tiếng.

Từ đó nói lên điều gì? Nói lên điều mà báo chí vẫn nói: họ làm giàu bền vững. 

Muốn có sự phát triển bền vững của nền kinh tế nước nhà, phải chăng chúng ta cần một đội ngũ doanh nhân, một tầng lớp người giàu phát triển đúng quy luật, phát triển bền vững, không chỉ dựa vào đất đai, hay tài nguyên thiên nhiên mà phải huy động được nội lực, được chất xám của con người - chất xám của con người Việt Nam vốn thông minh, cần cù, chịu khó... để làm nên những sản phẩm trí tuệ, những sản phẩm từ chất xám của thế giới ngày nay.

Tác giả Dương Kỳ Anh - Nguồn: VnEconomy

Tin bài khác:


[Thương Hiệu] Thông thường, ở nhiều nước trên thế giới, chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp được dùng để đánh giá tình hình sức khỏe của nền kinh tế. Tỷ lệ này thấp tức là nền kinh tế đang khỏe, đang tạo ra nhiều công ăn việc làm. Trong khi đó, câu chuyện ở Việt Nam lại không như vậy.


"Một năm kinh tế buồn"

Có lẽ những người hâm mộ chương trình Táo quân 2013 của Đài Truyền hình Việt Nam chưa quên bài hát cải biên "Hoang mang Style", ở đây chỉ xin trích lại vài câu để cho thấy cái nhìn của các nghệ sĩ về một năm kinh tế buồn ra sao.

Một năm kinh tế buồn. Tiền tiền tiền tiền tiền

Doanh nhân buồn. Tiền tiền tiền tiền tiền

Khắp nơi năm qua bao nhiêu công ty kinh doanh cùng chết sạch

Loay hoay đi vay nhưng không ai cho. Anh em xin vay thì cũng mặc

Hàng tồn hàng thừa không ai mua, không có tiền để mà rồi đáo hạn

Bất động sản thì ngày nào chết nặng.

Thực vậy, nhận định chung của người dân, doanh nghiệp lẫn các chuyên gia về năm 2012 đúng là một năm kinh tế buồn. Theo báo cáo thường niên doanh nghiệp 2012 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, số lượng doanh nghiệp phá sản trong năm 2012 đạt đến mức kỷ lục với 58.128 doanh nghiệp. Tính đến ngày 1-4-2012, Việt Nam chỉ còn 312.600 doanh nghiệp đang hoạt động trong tổng số trên 694.000 doanh nghiệp thành lập kể từ khi có Luật Doanh nghiệp.

Không chỉ có số lượng doanh nghiệp ngày càng ít đi mà quy mô doanh nghiệp cũng bị thu hẹp đáng kể. Cụ thể là số lao động bình quân trong một doanh nghiệp của năm 2002 là 74 người, đến năm 2011 chỉ còn 34 người. Số liệu của năm 2012 không thấy được đề cập, nhưng có lẽ cũng không khá hơn do sự khó khăn chung của nền kinh tế.

Trước một thực trạng như vậy thì Tổng cục Thống kê lại đưa ra một kết quả điều tra về lao động và việc làm với những con số đẹp như trong mơ.

Những con số không biết nói

Kết quả điều tra lao động việc làm quý IV-2012, được Tổng cục Thống kê công bố hồi cuối tháng 4 vừa qua, cho thấy tính đến thời điểm 1-1-2013, cả nước có 52,79 triệu người thuộc lực lượng lao động. Trong số này có đến 51,93 triệu người có việc làm và chỉ có 857,4 ngàn người thất nghiệp.

So với cùng thời điểm của một năm trước đó, số lao động có việc làm tăng 246 ngàn người, chủ yếu tập trung ở nam giới và ở khu vực thành thị, đồng thời xấp xỉ số người mới tham gia lực lượng lao động trong năm (250 ngàn người).

Như vậy số người thất nghiệp tăng thêm trong năm 2012 chỉ có 4.300 người, đạt tỷ lệ "như mơ" là 1,81%.

Chưa hết, một điểm đáng chú ý khác trong báo cáo, là ở Việt Nam tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị lại cao hơn nông thôn, trong đó tỷ lệ thất nghiệp ở TP.HCM là cao nhất, trên 3% tính ở thời điểm đầu năm 2013.

Trong khi đó, tại một cuộc hội nghị khác vào đầu năm 2013, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cũng cho biết tỷ lệ thất nghiệp của nước ta tính đến cuối năm 2012 là 1,99%. Đối với các nhà điều hành kinh tế, đây là điểm sáng trong bức tranh kinh tế u ám của năm ngoái, và điểm sáng này càng sáng hơn khi mà tỷ lệ thất nghiệp liên tục giảm trong các năm gần đây: năm 2010 là 2,8%, năm 2011 là 2,22% và năm 2012 còn chưa đầy 2%.

Thế nhưng, theo số liệu của Chính phủ báo cáo với Quốc hội, được nhiều chuyên gia trích dẫn trong các cuộc họp thì tỷ lệ thất nghiệp của năm 2012 là 3,25%, còn số lượng lao động được giải quyết việc làm là 1,52 triệu người. Cả hai con số này đều được Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Nguyễn Thanh Hòa xác nhận là đáng tin cậy.

Vậy thì, tại sao các con số quan trọng này lại chênh nhau đến như vậy? Đây là câu hỏi cần được trả lời một cách nghiêm túc.

Vài con số so sánh

Phải nói ngay rằng, tỷ lệ thất nghiệp 1,81% như của Tổng cục Thống kê công bố, hay 3,25% như của Chính phủ báo cáo, đều là những là con số đáng mơước của rất nhiều quốc gia, nhất là các nước đang gặp khủng hoảng ở châu Âu và cả nước Mỹ.

Theo số liệu của Bộ Lao động Mỹ, tính đến cuối tháng 4, tỷ lệ thất nghiệp của nước này đã xuống đến mức thấp nhất trong vòng bốn năm qua, đạt 7,5%. Với kết quả này, các nhà kinh tế Mỹ vẫn cho rằng đây là một dấu hiệu khả quan về sự hồi phục tăng trưởng của kinh tế Mỹ.

Còn ở châu Âu, kinh tế Đức được xem vững chãi nhất trong khu vực đồng tiền chung châu Âu, nhưng tỷ lệ thất nghiệp cũng hơn 7%. Cụ thể, theo Cơ quan lao động liên bang, tỷ lệ thất nghiệp tại Đức trong tháng 4-2013 đã giảm xuống còn 7,1%, đưa tổng số người thất nghiệp xuống còn 3,02 triệu người (giảm 77.500 người).

Nhìn sang các quốc gia châu Âu khác đang bị chìm trong cơn khủng hoảng kinh tế thì tỷ lệ thất nghiệp còn cao hơn rất nhiều. Chẳng hạn, tại Tây Ban Nha, tính đến cuối tháng 3-2013 có hơn 5 triệu người thất nghiệp, tương đương tỷ lệ 27%. Tương tự, ở Hy Lạp là 27,2%, Ý 11,5%, Bồ Đào Nha 17,6%.

Quả thực, nếu chỉ nhìn vào con số thất nghiệp để đánh giá sức khỏe nền kinh tế, như các nước vẫn làm, thì Việt Nam chắc chắn là một hình mẫu kinh tế thành công của khu vực và thế giới. Nhưng thực tế, đây lại là những con số không biết nói bởi vì như đã nói ở đầu bài, năm 2012 là năm cực kỳ khó khăn của nền kinh tế Việt Nam. Trong báo cáo về tình hình kinh tế xã hội năm 2012, Chính phủ cũng đã thừa nhận: "Kinh tế vĩ mô chưa vững chắc. Lạm phát vẫn có nguy cơ tăng trở lại. Nợ xấu gia tăng, xử lý còn chậm và còn nhiều khó khăn. Lãi suất tín dụng còn cao so với hiệu quả sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, khó tiếp cận được nguồn vốn, tồn kho lớn. Số lượng doanh nghiệp phải giải thể, ngừng hoạt động còn nhiều. Thị trường bất động sản đình trệ, chưa có khả năng phục hồi sớm, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả thấp, vi phạm pháp luật, gây thất thoát lớn tài sản nhà nước". Với thực trạng kinh tế như trên mà cả nước chỉ có chưa đến 1 triệu người thất nghiệp thì quả thật là khó hiểu.

Số sai, kinh tế sẽ lệch hướng

Nói đến con số việc làm mới được tạo ra trong năm hay tỷ lệ thất nghiệp, rất nhiều đại biểu Quốc hội khẳng định là họ không tin.

Ông Bùi Sỹ Lợi, Phó chủ nhiệm ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, đã từng phát biểu với báo giới rằng các số liệu về tiền lương, tạo việc làm mới, thất nghiệp đều có vấn đề. Theo ông, trong khi tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ vốn đầu tư/GDP đều giảm so với năm trước, số lượng doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm dừng hoạt động hay phá sản lại tăng mà con số việc làm mới không hề bịảnh hưởng, thậm chí còn tăng và tỷ lệ thất nghiệp lại giảm là điều không thể hiểu.

Đại biểu Trần Du Lịch cũng không ít lần thẳng thắn nói rằng ông không tin năm nào nền kinh tế cũng giải quyết được khoảng 1,5-1,6 triệu việc làm. Theo ông, Chính phủ phải có các công cụ kỹ thuật để tính chính xác số lao động được tạo việc làm mới trong năm, "còn nếu kinh tế cỡ nào cũng giải quyết việc làm cỡ 1,5-1,6 triệu thì Quốc hội quyết làm gì chỉ tiêu này".

Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cũng chia sẻ với quan điểm này. Trong bản tin Kinh tế vĩ mô phát hành hồi giữa tháng 3-2013, cơ quan này cho rằng đang có một sự vận động trái chiều, nằm ngoài dự đoán của các chuyên gia phân tích, đó là trong khi nền kinh tế được đánh giá là suy giảm, nhưng tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ thiếu việc làm và thu nhập, tiền lương vẫn được "cải thiện nhẹ" là điều "khó lý giải trong bối cảnh khu vực doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn".

Nói như chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, số liệu thống kê lao động và việc làm tại Việt Nam lâu nay tồn tại quá nhiều bất cập, cả về tính chính xác lẫn ý nghĩa đối với nền kinh tế. "Chỉ tiêu tạo việc làm mới vẫn đều đặn được báo cáo là hơn một triệu mỗi năm, nhưng để chỉ ra được những việc làm đó ở đâu thì rất khó", ông Doanh nói.

Một khi những số liệu quan trọng của nền kinh tế chưa được tính toán một cách chính xác, chưa đủ sức tạo niềm tin cho thị trường, thì khả năng chính sách bị lệch hướng là điều khó tránh.

Quỳnh Như/Theo DNSGCT
Tin bài khác:
Marketing Research Viet Nam[Thương Hiệu] Marketing là gì? Marketing là tìm hiểu khách hàng của mình là những ai, họ cần gì và muốn gì, và làm thế nào để đáp ứng nhu cầu của họ đồng thời tạo ra lợi nhuận:·cung cấp sản phẩm và/ hoặc dịch vụ mà khách hàng cần.

Marketing là hiểu khách hàng của bạn!

Khách hàng là yếu tố có ý nghĩa sống còn đối với công việc kinh doanh của bạn. Nếu bạn không cung cấp cho khách hàng thứ mà họ cần với giá phải chăng, họ sẽ tìm chỗ khác để mua hàng. Còn nếu khách hàng được đáp ứng tốt thì họ sẽ thường xuyên quay lại mua hàng của bạn. Họ sẽ tuyên truyền cho bạn bè và những người khác về doanh nghiệp của bạn. Đáp ứng được khách hàng bạn sẽ tăng được doanh số và lợi nhuận. Bạn hãy ghi nhớ rằng nếu không có khách hàng, kinh doanh sẽ thất bại.
  • Chiến lược giá khách hàng chấp thuận chi trả;
  • Chiến lược sản phẩm/ dịch vụ đến với khách hàng tiện lợi; và
  • Chiến lược quảng bá thông tin và thu hút khách hàng.

Nghiên cứu marketing: là tìm hiểu khách hàng

Việc thu thập thông tin về khách hàng được gọi là Nghiên cứu thị trường. Nghiên cứu marketing rất quan trọng khi lập kế hoạch cho bất kỳ việc kinh doanh nào. Có thể đặt ra rất nhiều câu hỏi:
  • Doanh nghiệp của bạn cần những loại khách hàng nào? (Họ là nam giới, phụ nữ hay trẻ em?) Và khách hàng tiềm năng của bạn.
  • Khách hàng cần loại hàng hoá hoặc dịch vụ thế nào? (kích cỡ? màu sắc? chất lượng? giá cả?)
  • Khả năng chi trả của khách hàng cho từng sản phẩm/dịch vụ của bạn?
  • Khách hàng của bạn sống ở đâu? Họ thường mua hàng ở đâu và khi nào?
  • Họ mua hàng thường xuyên không: mua hàng ngày, hàng tháng, hay hàng năm?
  • Số lượng khách hàng của bạn có tăng lên không?
  • So với trước đây số lượng khách hàng tăng lên hay có xu hướng giữ nguyên?
  • Tại sao khách hàng lại mua một loại sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó?
Những câu trả lời xác thực sẽ giúp bạn quyết định được ý tưởng kinh doanh của mình có giá trị hay không. Nghiên cứu thị trường có thể được tiến hành theo nhiều cách khác nhau.

Làm thế nào để biết khách hàng tiềm năng?

  • Dự đoán dựa trên hiểu biết sẵn có: Nếu như bạn đã có hiểu biết về một ngành kinh doanh nào đó bạn có thể dựa trên những kinh nghiệm đó để đưa ra một vài dự đoán hữu ích.
  • Sử dụng các nguồn thông tin trong ngành: Thông thường bạn có thể thu được thông tin về quy mô thị trường từ các cơ sở kinh doanh trong ngành. Việc nghiên cứu quy mô thị trường hàng hoá, nhu cầu, khiếu nại của khách hàng cũng không phải là khó. Hãy tham vấn các nhà phân phối chính về mặt hàng đó (các cơ sở bán buôn), xem các tài liệu chỉ dẫn về kinh doanh, báo chí thương mại...
  • Tham khảo ý kiến các khách hàng dự kiến được lựa chọn theo mẫu: Bạn nên tham khảo ý kiến càng nhiều khách hàng càng tốt. Hãy tìm hiểu xem có bao nhiêu người muốn sử dụng sản phẩm mà bạn sẽ bán.
  • Nghiên cứu marketing giống như điệp viên 007: bạn phải lần ra đầu mối để khám phá bí mật. Có thể bạn sẽ nhận ra rằng công việc kinh doanh không đủ lượng khách hàng cần thiết. Nếu đúng như vậy, hãy chuyển hướng nghĩ tới một việc kinh doanh khác.
Marketing là những việc làm trên không phải cứ đi tiếp thị và tiếp thị,... Làm việc trên ngọn mà thiếu nền tảng, đó là lý do marketing thoái trào + ảnh hưởng suy thoái kinh tế. Hãy rút kinh nghiệm để thúc đẩy ngành marketing.

Marketing Research 1
Biểu đồ marketing Việt Nam từ năm 2004 đến nay
Marketing Research 2
Biểu đồ marketing Thế giới từ năm 2004 đến nay

Theo Marketing online