A Pro Branding design Company

Logos Ads Brand identify designing and consulting

Portfolio

This is what we've been wroking on

Hiển thị các bài đăng có nhãn Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng
C.E.O Apple: Steve Jobs[Thương hiệu] Marketing Online đang là một trong những từ khóa hot nhất trong lĩnh vực marketing. Trên Google, từ khóa “marketing online” có hơn 1,2 tỷ kết quả trong 0,16 giây; từ “marketing chiến lược” là 4,3 triệu kết quả trong 0,36 giây; “marketing strategy” là 286 triệu kết quả. Tóm lại, marketing chiếc lược thua xa một khái niệm marketing mới mẻ: marketing online...

Marketing online đang khiến thị trường marketing sôi động. Dường như tất cả các doanh nghiệp đều muốn online. Tuy nhiên, liệu marketing có phải là câu trả lời cho các vấn đề các doanh nghiệp đang vấp phải trong thời buổi kinh tế khó khăn?

Phương tiện có thay cho mục đích?

Marketing online là một kênh bán hàng tuyệt vời trong thời đại internet ngày càng gia tăng tầm ảnh hưởng trong hành vi mua hàng của người tiêu dùng. Tuy nhiên, bản chất của internet là gì?

Môi trường internet là một kênh truyền dẫn thông tin, như các kênh truyền dẫn thông tin trước đây từng tồn tại như sách, báo, radio, truyền hình v.v... Cũng như những kênh truyền dẫn thông tin khác, internet có đặc điểm riêng biệt. Đó là lý do marketing online có những tính chất khác biệt so với hoạt động marketing trên các kênh thông tin khác.

Tuy nhiên, marketing online dẫu sao cũng vẫn chỉ là một kênh truyền dẫn thông tin, không hơn! Dẫu rằng hoạt động marketing dựa trên kênh truyền dẫn thông tin mạnh nhất cũng không thể thay được chiến lược marketing tổng thể. Nói cách khác, phương tiện không thể thay cho mục đích được!

“The Subservian Chicken” (Chú gà giúp ích) là một trong những chiến dịch marketing online nổi tiếng bậc nhất thế giới. Người dùng internet rất thích thú trước hình tượng The Subservian Chicken. Subservian Chicken cũng giúp Công ty Burger King tăng mức doanh thu. Tín hiệu tốt? Chưa hẳn! Bởi cùng thời gian đó, McDonald’s không có chiến dịch gì đáng kể nhưng mức tăng doanh thu vẫn cao hơn so với Burger King. Nói cách khác, người dùng internet yêu thích Subservian Chicken nhưng không giúp Burger King nhiều. Thực tế, Burger King đã bị những thương hiệu đồ ăn nhanh khác như Subway, Wendy vượt mặt.


John Carter, bộ phim siêu anh hùng bom tấn với vốn đầu tư vô tiền khoáng hậu của Walt Disney với dàn diễn viên hạng sao kỳ vọng là cục nam châm hút tiền về cho Wal Disney. Trailer của John Carter được chia sẻ nhiều nhất trong các trailer phim của năm qua kênh Youtube, được share với quy mô rộng trên Facebook. Tuy nhiên, sau khi trình chiến, bộ phim thất bại thảm hại. Từ hành động like và share trên mạng đến hành động mua vé xem phim là một khoảng cách không dễ lấp đầy.

Ba năm trước, thị trường nước ta bùng nổ kênh bán hàng online mang tên Groupon. Vào thời điểm cao trào của làn sóng groupon, nhiều chủ đầu tư đã coi kênh bán hàng này là cứu cánh.

Tuy nhiên, groupon cũng như những kênh marketing online, đó là một kênh bán hàng. Nó mang lại doanh thu, nhưng để tạo dựng thương hiệu, doanh nghiệp phải tạo được tính cách, hình ảnh và định vị riêng biệt trong tâm trí khách hàng.

Theo khảo sát của người viết, riêng trong lĩnh vực cửa hàng pizza, hơn 40% trong số những nhà hàng pizza tại Hà Nội từng chạy qua kênh bán hàng Groupon trong ba năm qua giờ đã ngừng hoạt động.


Marketing online chỉ là một phương tiện, dù đó là một phương tiện hết sức mạnh mẽ.

Như ông tổ của quảng cáo hiện đại David Ogilvy từng nói: “Nếu bạn có một ý tưởng thực sự lớn, chiến thuật kém cỏi không giết chết ý tưởng đó được. Nhưng nếu bạn không có ý tưởng lớn, chiến thuật tốt cũng chẳng có ích gì” (If you have a truly big idea, the wrong technique won’t kill it. If you don’t have a big idea, the right technique won’t help you).

Liệu có hy vọng nào cho những sản phẩm sử dụng thuần thục kênh marketing nhưng có chiến lược kém cỏi?

Chỉnh hướng con thuyền với lỗ thủng dưới dáy

Trong cuộc phỏng vấn lịch sử All Thing Digital giữa hai huyền thoại tạo lập nên nền tảng internet hiện đại là Steve Jobs và Bill Gates, Steve Jobs đã có một câu nói lịch sử: “Khi tôi quay trở về lại Apple, Gil Amelio, CEO lúc đó của Apple đã nói với tôi: Apple là một con thuyền thủng đáy trong khi đó công việc của tôi là chỉnh con thuyền đi đúng hướng”.

Sau khi Steve Jobs về lại Apple với chức vụ iCEO - CEO tạm quyền, ông đã họp nhân viên, chỉ ra những sản phẩm đang có của Apple và nói: “Đây là một mớ sản phẩm hỗn tạp, không có chút gì hấp dẫn người tiêu dùng”.

Và ông quyết định khai tử toàn bộ các sản phẩm với những seri lộn xộn và thiếu cá tính, tập trung cho việc ra đời những sản phẩm công nghệ cao mang tính đột phá: “Tôi tin rằng Apple là một công ty đầy tính sáng tạo, nó nằm trong bộ gen của doanh nghiệp”. Chiến lược đã xong, giờ chiến thuật là gì? Steve Jobs thay đổi hãng tư vấn marketing, mời lại Chiat Day, hãng đã giúp ông tung ra quảng cáo máy tính McIntosh năm 1984.

Sau đó, Steve Jobs phát biểu trước nhóm phát triển sản phẩm: “Đối với tôi, marketing là chuyển tải những giá trị thương hiệu đến cho người tiêu dùng. Để đưa hình ảnh Apple là một công ty giàu tính sáng tạo vào tâm trí người tiêu dùng, ta cần gắn Apple với những nhân vật sáng tạo, những hình tượng sáng tạo”.

Kết quả là sự ra đời của clip quảng cáo huyền thoại tạo thành slogan “Nghĩ khác” (Think diffirent) với đoạn lời thoại tuyệt vời “Here to the crazy one” (Gửi những kẻ điên) gắn chặt hình ảnh Apple với những danh nhân thế giới: Pablo Picasso, Albert Einstein, Luther King, John Lennon v.v...


Hướng đi của Apple đã thay đổi hoàn toàn. Sau đó, hàng loạt sản phẩm đột phá: iPod, iPhone, iPad, cuỗi cửa hàng bán lẻ Apple Store, trang nhạc số iTunes ra đời, biến Apple thành một biểu tượng của sự sáng tạo đột phá và đưa Apple trở thành thương hiệu mạnh nhất toàn cầu.

Đó là cách xử lý của một CEO huyền thoại. Đưa công ty về đúng quỹ đạo chiến lược với những chiến thuật marketing cực kỳ sáng tạo. Tuy nhiên, không phải công ty nào cũng may mắn có được những cá tính như Steve Jobs.

Kevin Roberts, CEO của hãng tư vấn Saachi & Saatchi đã phát biểu trong năm 2012: “Chúng ta sống trong một thế giới mà doanh nghiệp tung tiền vào những chiến dịch marketing trước mắt. Chiến lược dường như đã chết”. Al Ries, tác giả của hàng loạt best seller về marketing cũng thừa nhận: “Tôi tham gia nhiều cuộc họp của các ban giám đốc công ty và chiến lược marketing hiếm khi được đề cập đến hoặc chỉ là những ý kiến rơi rớt sau cùng”.

Nói cách khác, dù là một công cụ rất mạnh nhưng chúng ta không thể đặt marketing online trước marketing chiến lược. Ngược lại, khi doanh nghiệp có vấn đề, câu hỏi luôn phải là: “Chiến lược của chúng ta có vấn đề gì chăng? Chúng ta cần chiến thuật gì để thực thi chiến lược đúng đắn?”. Doanh nghiệp ngày nay cần phải dung hòa giữa chiến lược và chiến thuật.

Hình tượng hơn, doanh nghiệp cũng như một con thuyền, cần phải có những mái chèo đẩy sóng cho thuyền tiến lên. Nhưng cần hơn hết là con thuyền phải có la bàn để giúp doanh nghiệp đi đến đúng nơi cần thiết. Marketing online là một trong những mái chèo tạo nên lực đẩy cho doanh nghiệp. Marketing chiến lược là chiếc la bàn giúp doanh nghiệp đạt đến bến bờ mình mong muốn.

Theo Hoàng Tùng (DNSG)
Thuong hieu quoc gia[Thương Hiệu] Trước tiên, tiếp thị hình ảnh quốc gia (Country Branding) là một hoạt động truyền thông và tiếp thị đã được các quốc gia thực hiện từ rất lâu và rất thường xuyên. Ở nước ngoài, có tiếp thị hình ảnh quốc gia cấp chiến lược (strategy) và cấp chiến dịch (campaign). 

Ngoài hình ảnh quốc gia, người ta còn tích cực phát triển thương hiệu địa phương (cấp tỉnh, huyện), bởi ngay trong một quốc gia thì các địa phương cũng đã cạnh tranh với nhau khá quyết liệt. Nhưng về nguyên tắc truyền thông, tiếp thị quốc gia hay tiếp thị địa phương cũng phải tuân thủ tất cả các phương pháp truyền thông thông thường.

Bốn thách thức của Việt Nam

Nếu không có một mục đích truyền thông rõ ràng mà chỉ nhằm “tuyên truyền” hình ảnh quốc gia một cách chung chung thì sẽ không có hiệu quả.

Đối với công tác tiếp thị hình ảnh quốc gia của Việt Nam, thì vấn đề đầu tiên, quan trọng nhất là phải xác định mục đích truyền thông, bởi nếu không có một mục đích rõ ràng mà chỉ nhằm “tuyên truyền” hình ảnh quốc gia một cách chung chung thì sẽ không có hiệu quả. Ví dụ, nếu mục tiêu là để hỗ trợ cho quá trình gia nhập TPP thì mục đích truyền thông, đối tượng truyền thông, các kênh truyền thông là khác với việc tiếp thị hình ảnh Việt Nam như một điểm đến du lịch. Nguy hiểm nhất là chúng ta luôn nghĩ rằng một chương trình chung chung có thể đạt được tất cả các mục tiêu, đôi khi không thống nhất như trên. Hiện không có cơ quan nào ở Việt Nam đứng ra để thống nhất được mục tiêu cụ thể, rõ ràng, có thể đo đếm được về mục tiêu truyền thông, do vậy chưa có một đầu bài cho việc truyền thông thương hiệu quốc gia.

Vấn đề thứ hai là muốn tiếp thị một hình ảnh tích cực về Việt Nam, thì phải biết thế giới đang nghĩ về mình như thế nào? Mà muốn biết họ nghĩ như thế nào thì phải có nghiên cứu. Chúng ta chỉ nói theo cách chúng ta nghĩ một cách cảm tính mà thôi, chứ không hề biết thực chất bên ngoài đang nghĩ gì về chúng ta cả, hoặc không có can đảm muốn biết, muốn phát hiện vấn đề.

Nhiều người nói về vấn đề chi phí làm nghiên cứu. Thật ra có rất nhiều nơi họ làm đánh giá, nghiên cứu về hình ảnh quốc gia. Nếu chúng ta cần tìm hiểu thì nhìn vào đó, chúng ta đã có thể biết Việt Nam ở vào vị trí như thế nào, có thể hình dung hình ảnh của Việt Nam qua cái nhìn của thế giới như thế nào. Tổng hợp tất cả sẽ biết người ta đánh giá mình tích cực ở chỗ nào, tiêu cực ở chỗ nào. Từ hiểu biết về thế giới bên ngoài tiếp nhận hình ảnh của Việt Nam như thế nào, mới thấy thách thức của chúng ta về mặt hình ảnh quốc gia là gì. Khi đấy mới quyết định mục tiêu truyền thông tiếp thị cho hình ảnh Việt Nam là nhằm giải quyết vấn đề gì trong nhận thức của thế giới về chúng ta? Chúng ta muốn thay đổi nhận thức của người họ hay là xây dựng nhận thức mới? Hai cái đó rất là khác nhau.

Ví dụ: có chuyên gia vào Việt Nam, họ bảo ta nên xây dựng hình ảnh Việt Nam là cái bếp thế giới. Tại sao? Vì đấy là cái cảm nhận đầu tiên của họ và họ thấy hay, độc đáo. Chúng ta cười họ bảo họ chưa hiểu thấu đáo về Việt Nam. Nhưng tại sao họ lại phải hiểu thấu đáo về Việt Nam? Tâm lý này cho thấy "điều mình muốn" với "cái thế giới thích" khác xa nhau như thế nào?

Vấn đề thứ ba, đó là chúng ta không có một chính sách chung về chiến lược xây dựng hình ảnh quốc gia, không có một thông điệp thống nhất, không có một câu chuyện thống nhất, để trên nền tảng đó các cơ quan thực hiện các chiến dịch tiếp thị hình ảnh. Cho nên ông ngoại giao làm một kiểu, ông văn hóa làm một kiểu, ông thương mại làm một kiểu, ông du lịch làm một kiểu, ông kêu gọi thu hút đầu tư làm một kiểu. Thiếu sự nhất quán trong cách làm thì cũng như câu chuyện ngụ ngôn về chim, tôm, bò, gà cùng kéo một cỗ xe, mỗi người kéo về một phía khác nhau thì cỗ xe chẳng đi đâu được cả. Cho nên phải ngồi với nhau, thống nhất với nhau, thế nào là bản sắc của thương hiệu quốc gia, thế nào là thông điệp thể hiện bản sắc đó, rồi phối hợp các kênh ngoại giao, văn hóa, du lịch, thương mại, kêu gọi đầu tư nhằm thực hiện một chương trình thống nhất.

Vấn đề thứ tư, đó là thiếu một cơ chế đo lường hiệu quả của các chương trình tiếp thị quốc gia. Sau khi thực hiện, có tổ chức nghiên cứu ở bên ngoài xem hình ảnh của chúng ta có được cải thiện hay không, có giải quyết được vấn đề mà chúng ta gặp phải khi nghiên cứu hình ảnh của chúng ta mà thế giới đã tiếp nhận hay không. Không có cơ chế đo lường và đánh giá hiệu quả một cách khách quan, học kinh nghiệm từ những thất bại thì khó có thể có một chiến lược tiếp thị hình ảnh một cách hiệu quả và lâu dài

Nếu giải quyết được 4 thách thức này thì việc xây dựng một chiến lược truyền thông, các chương trình hay chiến dịch tiếp thị hình ảnh sẽ không phải là vấn đề lớn lắm.

Việt Nam đang ở đâu?

Để đánh giá Việt Nam đang ở đâu, đã làm được gì trong việc truyền thông hình ảnh quốc gia thì phải trả lời hai câu hỏi sau: Có mong muốn truyền thông hình ảnh quốc gia hay không? Đã có bước nào để thực hiện việc đó chưa?

Câu trả lời của tôi là: Việt Nam có muốn làm điều này, nhưng chưa có bước đi nào đúng hướng để thực hiện điều đó cả. Chưa có một nghiên cứu chung để biết hình ảnh của Việt Nam được nhận biết như thế nào? Chưa có một chương trình nào về truyền thông thương hiệu quốc gia.

Thông thường, người ta xây dựng hình ảnh quốc gia qua 3 trụ cột là: Du lịch, đầu tư và văn hóa. Về mặt du lịch, Việt Nam có làm, nhưng chỉ đặt mỗi cái “tên” xong rồi không có chương trình gì để thực hiện tiếp nữa. Trên khía cạnh đầu tư, những năm vừa rồi việc truyền thông hình ảnh Việt Nam thụt lùi so với những năm trước. Văn hóa cũng không có những sự kiện văn hóa có giá trị, trừ Festival pháo hoa Đà Nẵng. Nhìn sang các quốc gia xung quanh, thấy rõ ràng là Việt Nam xếp hạng rất thấp, ngay Campuchia thông điệp của họ cũng rất rõ ràng.

Một cột trụ khác rất quan trọng và kéo hình ảnh quốc gia lên rất nhiều là hình ảnh người đứng đầu đất nước. Ví dụ, Singapore xây dựng hình ảnh thông qua Thủ tướng Lý Quang Diệu, Malaysia xây dựng hình ảnh thông qua Thủ tướng Mohathir. Những con người này cũng là một phần của “thương hiệu quốc gia” của Singapore hay Malaysia.

Phần xây dựng hình ảnh quốc gia bằng hình ảnh lãnh đạo của Việt Nam còn rất yếu. Yếu ở đây là không có định hướng, chưa có ai đặt tư vấn cho lãnh đạo Việt Nam phải xây dựng hình ảnh như thế nào để tương thích với mục tiêu của xây dựng hình ảnh đất nước.

Phải có câu chuyện để kể

Cái quan trọng nhất của việc xây dựng hình ảnh quốc gia là phải có câu chuyện. Thật ra mà nói, Việt Nam có rất nhiều câu chuyện để kể nhưng chúng ta không kể mà lại để cho những câu chuyện tiêu cực lấn át hết. Trong giới hạn của mình, tôi chỉ xin đề cập đến vài câu chuyện mà theo tôi là rất đáng để nói và cũng đã được nói rồi, nhưng chưa được đẩy lên đến tầm cần thiết.

Thứ nhất là câu chuyện xoá đói giảm nghèo. Thành tựu của Việt Nam trong việc xoá đói giảm nghèo luôn được Ngân hàng Thế giới coi là một câu chuyện thành công để “tiếp thị” cho hoạt động của họ trên toàn thế giới. Tại sao họ lại làm vậy? Vì họ muốn chứng minh rằng họ làm đúng, rằng các chương trình của họ có tác dụng. Vậy tại sao chúng ta không giúp họ quảng bá mạnh mẽ hơn câu chuyện đó. Đây là một câu chuyện tự đến, mình phải biết tận dụng và biến nó thành câu chuyện của mình.

Thứ hai, là câu chuyện rất hay liên quan về giới. Bạn bè tôi ở nước ngoài luôn ngạc nhiên về những tiến bộ trong thay đổi nhận thức của xã hội Việt Nam với những vấn đề liên quan đến phụ nữ, hay liên quan đến cộng đồng đồng tính chẳng hạn. Việt Nam là một trong những nước khá linh hoạt và tiến bộ nhanh trong việc chấp nhận và tránh đối xử phân biệt với cộng đồng đồng tính. Cộng đồng này có ảnh hưởng khá mạnh trên thế giới, nên đây sẽ là một câu chuyện thú vị đối với họ.

Hay như câu chuyện về kênh Nhiêu Lộc, một ví dụ cho thấy sự biến đổi theo hướng tích cực ở đô thị Việt Nam hiện đại. Nó xuất hiện trong rất nhiều báo cáo của các tổ chức phi chính phủ, của các phóng viên nước ngoài như một hình ảnh rõ nét về sự thay đổi của những dự án hạ tầng.

Quay trở lại vấn đề câu chuyện của Việt Nam, tôi thích cách xây dựng theo kiểu “Việt Nam là đất nước của các cơ hội”. Vì sao? Vì Việt Nam nhiều thứ đang hình thành, đang đi vào quỹ đạo cho nên làm cái gì chỉ cần làm tử tế thì khả năng thành công rất cao. Trong khi đó ở nhiều nước, có đủ mọi thứ nên việc kinh doanh, đầu tư, dịch vụ... đều phải cạnh tranh. Còn ở Việt Nam, nếu là một người kiên nhẫn, có ý tưởng tốt, làm việc tốt thì nói chung đều thành công. Đó cũng là một dạng câu chuyện khác mà chúng ta có thể khai thác.

Điện ảnh chỉ có ý nghĩa khi lên được màn ảnh lớn

Tôi xin đề cập đến một lĩnh vực khác rất quan trọng được sử dụng để tiếp thị hình ảnh quốc gia, mà Chính phủ ta cũng hay quan tâm đầu tư, đó là điện ảnh. Tuy vậy, Chính phủ ít khi để ý rằng, phần lớn các bộ phim được đầu tư như vậy lại không lên được “màn ảnh lớn”, tức là nó chỉ chiếu cho một cộng đồng rất nhỏ, cho nên ý nghĩa của nó là vô cùng nhỏ.

Nếu đứng ở góc độ hình ảnh quốc gia mà nói thì phim Việt Nam ra nước ngoài là chưa có ý nghĩa gì. Vì vậy nếu được quyết định, tôi sẽ không dùng điện ảnh Việt Nam để truyền thông thương hiệu quốc gia cho Việt Nam, nếu như nó không có cơ lên được màn ảnh lớn (tức là điện ảnh Hollywood). Tôi thà đầu tư cho việc kêu gọi Hollywood làm phim tại Việt Nam hay về Việt Nam còn hơn hỗ trợ cho những bộ phim như vậy. Những nước ở bên cạnh chúng ta, to thì như Trung Quốc, nhỏ thì như Singapore, đều có chiến lược nhất quán trong việc ủng hộ sự tham gia hay sự hiện diện của hình ảnh địa phương trong các bộ phim Hollywood. Và đó là kênh tiếp thị hình ảnh quốc gia cực kỳ hiệu quả.

Mọi thứ bắt đầu từ sự lắng nghe

Tiếp thị hình ảnh thì cần phải có sự đa dạng trong các kênh, trong đó có kênh báo chí. Tuy nhiên, đối với báo chí thì quan trọng nhất là phải có đối thoại, có đối thoại mới thu hút được. Nếu chỉ truyền thông một chiều thì anh sẽ không biết được người ta nghĩ như thế nào. Do đó, việc duy trì sự đối thoại và duy trì sự lắng nghe, thể hiện sự lắng nghe của mình đối với truyền thông nước ngoài là cái quan trọng nhất. Mọi thứ bắt đầu từ việc lắng nghe, và phải suy nghĩ, tự hỏi mình. Những người có thiện chí thì đành rồi, vậy với những người hiểu sai hay chưa có thiện chí thì anh có nhẫn nại để giải thích hay không? Hay có cách nào để trung lập hóa hay kéo họ về phía mình hay không? Có rất nhiều phương thức khác nhau và phương thức dễ nhất là thể hiện sự lắng nghe của mình đối với những bài viết của họ.

Một khía cạnh khác là khoảng cách giữa truyền thông báo chí ở Việt Nam với bên ngoài. Phải có sự tương đồng thì mới đưa được hình ảnh báo chí truyền thông ra nước ngoài. Báo chí Việt Nam hiện nay vẫn giữ tư tưởng là tuyên truyền, ngày xưa tuyên truyền rất dễ, báo chí xã hội chủ nghĩa anh em cả. Nhưng bây giờ mà chỉ tuyên truyền một chiều không thể có sự nhận thức tốt. Chúng ta phải hiểu nó không tốt ở chỗ nào.

Xem người và ngẫm đến ta

Tôi chia sẻ một vài ví dụ thành công về truyền thông hình ảnh quốc gia ở Mexico mà công ty của chúng tôi đã thực hiện.

Khi vấn đề buôn bán ma túy hủy hoại hình ảnh của Mexico ở Mỹ và các nước châu Âu, người ta bắt đầu không đến Mexico làm ăn hay du lịch, người ta sợ bạo lực, giết chóc ở đó. Việc đầu tiên, Mexico phải làm là không thể chối bỏ được thực tế. Vấn đề đó đã tồn tại, thế nhưng họ khoanh vùng những vấn đề đó. Họ cho thế giới biết đây chỉ là một số nơi nhỏ hẹp chứ không phải toàn bộ Mexico. Họ cũng đưa ra thông điệp là chúng tôi đang giải quyết vấn đề đó. Họ cũng đưa ra so sánh với những nơi như New York để người xem hiểu rằng dù ở đó không phải lúc nào, ở đâu cũng an toàn.

Bước thứ 2, chúng tôi xây dựng một chương trình truyền thông nhấn mạnh đến những chia sẻ của những người đã tới, đang làm việc hay có dự định tới Mexico, để họ chia sẻ những điểm tích cực về Mexico, từ lãnh đạo của những tập đoàn đa quốc gia đang hoạt động ở Mexico, tới các chính trị gia, những người nổi tiếng, cả những người bình thường nữa. Chương trình rất thành công. Sau chương trình này, Chính phủ Mexico tính được chỉ số FDI tăng 10%. Điều này cho thấy, không thể phủ nhận sạch trơn những gì mà thế giới nhận thức về những tồn tại của mình. Mexico đã thừa nhận đó là những vấn đề còn tồn tại. Vấn đề là nói: “Tôi biết tôi có những vấn đề còn tồn tại. Tôi đang nỗ lực khắc phục sửa chữa nó”.

Tương ứng với Việt Nam, có những vấn đề đang tồn tại của chúng ta mà thế giới nhận thức đúng. Chúng ta không thể phủ nhận sạch trơn mà phải thừa nhận. Quy luật của nhận thức là một quá trình, họ không dễ dàng chấp nhận chúng ta “quay mặt đi” và nói rằng ở đây mọi thứ đều như thiên đường. Vấn đề là cần thừa nhận những gì là thực tế, đồng thời sửa những chỗ hiểu biết chưa đúng và cho họ biết chúng ta đang khắc phục. Bên cạnh đó, cũng phải cho họ biết, chúng ta còn rất nhiều những vấn đề tích cực và cộng đồng đừng để những vấn đề tiêu cực này ảnh hưởng đến những vấn đề tích cực...

Hồng Chuyên - Infonet
[Tư vấn Marketing4u - Tiếp thị] - Google - “vua tiếp thị trực tuyến” đã và đang sử dụng nhiều phương thức tiếp thị lạ để tìm khách hàng mới. Theo Wendy Kenny, nhà sáng lập công ty chuyên về tiếp thị và quan hệ công chúng có tiếng tăm là 23 Kazoos ở Phoenix (bang Arizona, Mỹ), tác giả của cuốn sách thuộc hàng best-seller How to Build Buzz for Your Business (tạm dịch: Bí quyết tạo sự chú ý cho doanh nghiệp), các doanh nghiệp nhỏ có thể học được năm kỹ năng tiếp thị dưới đây được đúc kết từ hoạt động của Google.



1. Nhất nghệ tinh

Trước khi tung ra các chương trình định vị và bản đồ (Google Earth, Google Maps) hoặc phát triển hệ điều hành Android, Google đã hoạt động rất hiệu quả ở lĩnh vực tìm kiếm thông tin trên mạng internet.

Công nghệ tìm kiếm thông tin của Google đã rất tiên tiến ngay từ khi ra đời và nhờ liên tục cải tiến, đến nay Google vẫn luôn đi tiên phong trong lĩnh vực này. 

Bằng cách cam kết thực hiện phương châm “Nhất nghệ tinh” trong kinh doanh, Google đã xây dựng được uy tín trên thị trường, được đánh giá là trang web tìm kiếm thông tin nhanh, đầy đủ và đáng tin cậy hàng đầu thế giới.

2. Không ngủ quên trên chiến thắng

Mặc dù đã khẳng định được vị trí hàng đầu trong lĩnh vực tìm kiếm thông tin, nhưng Google không ngừng thay đổi các thuật toán ứng dụng và các chức năng của trang web tìm kiếm thông tin để tạo ra trải nghiệm ngày càng tốt hơn cho khách hàng.

Google hiểu rằng các đối thủ cạnh tranh khác đang nỗ lực để đạt được thành công như mình nên luôn tìm cách đi trước một bước bằng cách không ngừng cải thiện sản phẩm chủ yếu và trình làng thêm những sản phẩm mới. Đây là điều mà các doanh nghiệp nhỏ dù muốn cũng khó làm được.

Sở hữu một sản phẩm tuyệt vời có thể giúp doanh nghiệp vươn lên hàng đầu, nhưng để duy trì vị trí tiên phong, doanh nghiệp phải liên tục đổi mới và mang lại cho khách hàng những điều thú vị mới.

3. Không bỏ nhiều trứng vào một giỏ

Dù đang thống lĩnh thị trường tiếp thị trên internet nhưng Google không bỏ qua việc nghiên cứu cách thức tiếp thị trực tuyến của các đối thủ cạnh tranh và vận dụng nhiều phương thức tiếp thị khác nhau (bằng thư điện tử, bằng thư gửi qua đường bưu điện, qua điện thoại) để tìm kiếm khách hàng mới.

Bằng cách vận dụng nhiều chiến lược tiếp thị khác nhau, Google có thể tiếp cận được tất cả các đối tượng khách hàng tiềm năng, chứ không chỉ riêng những khách hàng đã quan tâm và đầu tư cho lĩnh vực tiếp thị trực tuyến.

4. Không ngừng sáng tạo

Nhận thức được tầm quan trọng của việc mở rộng và đa dạng hóa dịch vụ nên Google luôn cam kết xây dựng một môi trường văn hóa đề cao tính sáng tạo. Chính thái độ cầu tiến này đã giúp Google tạo ra nhiều phần mềm hữu dụng cho khách hàng như Google Earth, hệ điều hành Android và Google Maps.

Mặc dù không phải sản phẩm mới nào của Google cũng thành công (ví dụ trường hợp Google Wave), nhưng nỗ lực sáng tạo ra những sản phẩm mới chính là nền tảng rất tốt để tập đoàn này tiếp tục phát triển thành công nhiều sản phẩm khác trong tương lai.

5. Chú trọng tính hài hước

Google luôn quan niệm rằng làm kinh doanh là đem đến niềm vui cho mọi người. Ít có công ty nào thường xuyên thay đổi logo nhưng không làm ảnh hưởng đến hình ảnh nhãn hiệu của mình như Google.

Họ luôn tạo ra nhiều thiết kế logo vui nhộn cho Google Doodles nhân những sự kiện và dịp nghỉ lễ đặc biệt. Cách làm này không chỉ mang đến niềm vui cho người sử dụng và cho đội ngũ nhân viên của Google, mà còn tạo ra nhiều cơ hội để đẩy mạnh dịch vụ quảng cáo trực tuyến.

Một điều nữa mà Google đang làm để đem đến niềm vui cho mọi người là ẩn giấu những điều ngạc nhiên nho nhỏ hoặc những mẩu chuyện cười trong chức năng tìm kiếm thông tin. Những điều ngạc nhiên ấy được gọi là Easter Eggs (trứng để mọi người tặng nhau trong lễ Phục sinh), mà trên thực tế là những từ khóa tìm kiếm thông tin có thể cho ra những trang kết quả thú vị.

Chẳng hạn, nếu người sử dụng gõ cụm từ do a barrel roll (hãy xoay tròn) trong ô tìm kiếm thông tin của Google Search thì màn hình máy tính sẽ bắt đầu xoay tròn. Những trò vui như vậy của Google vừa gây sự chú ý cho khách hàng, vừa nâng cao sự gắn bó với khách hàng và giúp họ cảm thấy thỏa mãn hơn.

NHẤT NGUYÊN (theo Startupnation)
Sưu tầm: Masgroup.vn
Viral-marketing-chen-thanh-cua-tiep-thi-so
[Tư vấn Marketing4u - Quảng cáo] - Dạo gần đây ắt hẳn các bạn có nghe  về Viral Marketing. Đây là một hình thức Marketing khá thú vị và mới mẻ. Hình thức này được xem là "chén thánh" của tiếp thị số.


Trong nghiên cứu của Harvard Business Review (HBR), họ đã dùng các máy quét nhãn cầu bằng tia hồng ngoại để xác định chính xác xem mọi người đang tập trung vào điểm nào khi xem các quảng cáo truyền hình. Đồng thời cũng sử dụng một hệ thống phân tích biểu hiện khuôn mặt để đọc cảm giác của người nghe.


Những công nghệ này cho phép tách biệt các nhân tố khiến cho mọi người ngừng xem và tìm ra những nhân tố khiến họ bị lôi cuốn vào. Thêm vào đó, chúng cho chép xác định loại quảng cáo nào thường được chia sẻ nhất và loại người nào hay chia sẻ chúng nhất. Sau đây là 5 vấn đề lớn mà các nhà quảng cáo trực tuyến đối mặt:

1/ Làm nổi bật thương hiệu quá đáng

Khi mọi người xem quảng cáo, họ tập trung vào một vài điều như miệng và mắt của diễn viên. Họ cũng tập trung vào các logo. Điều này không mang lại lợi ích như tưởng tượng: logo càng nổi bật và chiếm nhiều không gian thì người xem càng có xu hướng dừng xem - cho dù họ biết và yêu thích thương hiệu. Tại sao vậy? Con người có một ác cảm vô thức với việc bị thuyết phục, vì vậy khi thấy một logo, họ kháng cự lại.

Tận dụng “mạch đập của thương hiệu”. Các nhà quảng cáo thông minh thường kín đáo đưa hình ảnh thương hiệu vào xuyên suốt quá trình quảng vào. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng điều này có thể làm tăng tỷ lệ người xem vào khoảng 20%. Một trong những ví dụ tốt nhất của kỹ thuật này là quảng cáo hoạt hình “Nhà máy hạnh phúc” (Happiness Factory) của Coca-Cola (bạn có thể tìm xem nó trên Youtube).

Đoạn quảng cáo nói trên mô tả một hoạt cảnh kỳ thú về những gì diễn ra bên trong một cỗ máy Coke khi có một ai đó đưa tiền vào. Một chai Coke được đưa vào một cách lặp lại, nhưng mỗi lần xuất hiện là nhanh chóng; bạn có thể gần như tưởng tượng rằng câu chuyện có thể diễn ra mà không cần cái chai. Trong thực tế, một câu hỏi thú vị cần được đặt ra khi xem một quảng cáo là: Nếu như tôi loại bỏ hình ảnh thương hiệu, liệu nội dung có còn thực sự thú vị không? Nếu như câu trả lời là có, thì người xem có xu hướng tiếp tục theo dõi.



2/ Người xem dễ cảm thấy nhàm chán ngay lập tức

Sau khi ghi lại biểu hiện của người xem với các máy quay, nhóm nghiên cứu sử dụng công nghệ tự động đo lường khoảng cách giữa các phần các phần khác nhau của khuôn mặt để nhận diện nụ cười, những cái cau mày và những biểu hiện khác tương ứng với các cảm xúc khác nhau.

Sau khi phân tích hàng ngàn phản ứng trong nhiều quảng cáo, từng giây một, và theo dõi chính xác khi nào mọi người ngừng xem, nghiên cứu phát hiện ra rằng việc giữ những người xem bị lôi cuốn dựa phần lớn vào cảm xúc: sự thích thú và ngạc nhiên.

Để tối đa hóa lượng người xem, cần tạo ít nhất một trong những phản ứng này trong giai đoạn đầu. Dù vậy theo cách truyền thống, các nhà quảng cáo đã xây dựng nên những câu chuyện nâng cao dần đến một điểm cực đình hay một kết thúc gây ngạc nhiên. Những mẫu quảng cáo như vậy đã từng có tác dụng trên truyền hình trong nhiều thập kỷ trước đây, nhưng giờ đây các khán giả trực tuyến cần bị lôi cuốn ngay từ giây đầu tiên.

Tạo ra sự thích thú và ngạc nhiên ngay tức thì. Có 2 đoạn video đặc trưng cho việc diễn tả những cảm xúc này lúc bắt đầu.

Trong một video, một nhà phát ngôn quen thuộc của Apple được kết hợp với Mr. Bean, người nhảy điên loạn trong phần còn lại của thời gian. Đoạn video hóa ra không phải là một quảng cáo chính thức của Apple nhưng là chuỗi video nhại khéo léo quảng cáo “Get a Mac” của Apple.

Quảng cáo “Swear Jar” (Chiếc hũ lời thề) của Bud Light mở đầu với một sự ngạc nhiên: khi một văn phòng đặt một chiếc hũ để nhân viên thả tiền vào như phí phạt cho hành vi không phù hợp, một nhân viên lập tức chửi rủa vì anh biết rằng tiền sẽ được dùng để mua Bud Light.

Cả 2 đoạn video lôi cuốn người xem ngay lập tức.




3/ Người xem xem một lúc rồi dừng lại

Dù đoạn video của Mr.Bean thành công trong việc thu hút người xem, nhưng nó không giữ chân họ được. Đó là vì sự thích thú mà đoạn video tạo ra được truyền tải ở mức khá bằng nhau. Thực tế, các đoạn quảng cáo mang lại các trạng thái cảm xúc không đổi không hiệu quả trong việc lôi cuốn người xem quá lâu.

Tạo ra một đường ray tàu lượn cảm xúc. Người xem có xu hướng tiếp tục theo dõi một video quảng cáo nếu như họ trải qua sự lên xuống trong cảm xúc. Điều này phù hợp với các phát hiện trong nghiên cứu tâm thần học về khả năng thích nghi của con người. Khi chúng ta vào trong một ngôi nhà ấm áp trong một ngày mua Đông giá lạnh, hay khi chúng ta nhận một khoản tăng lương, chúng ta trải qua sự thỏa mãn, nhưng cảm giác này chỉ tồn tại trong chốc lát, sự mới lạ nhanh chóng biến mất. Việc tạo ra một đường ray tàu lượn cảm xúc - như cách mà một bộ phim gây ra sự hồi hộp bằng cách chuyển đổi giữa sự căng thẳng và thư giãn - làm cho cảm xúc tồn tại lâu hơn nhiều

4/ Người xem thích nhưng không chia sẻ

Các thí nghiệm được tiến hành cũng chứng minh rằng, mặc dù người xem thích và tận hưởng mẩu quảng cáo, nhưng không phải lúc nào họ cũng chia sẻ cho người khác. Những điều gây sốc có thể kích thích mọi người xem nó với tư cách cá nhân nhưng lại khiến họ e ngại khi chia sẻ.

Hãy xem quảng cáo “Em bé trượt patin” nổi tiếng của hãng nước khoáng Evian – mẩu quảng cáo kết hợp giữa giai điệu hiphop sôi động và những trẻ sơ sinh thời @.

Tên thương hiệu không xuất hiện quá phô trương nhưng thường xuyên trong suốt 60 giây quảng cáo. Trong bảy giây đầu, người xem thấy một trẻ sơ sinh trên giày trượt patin, lắc lư nhịp nhàng như một rapper - một cảnh đủ đáng ngạc nhiên để kéo mọi người xem tiếp. Đã có hơn 56 triệu lượt xem quảng cáo này trên YouTube.

Quảng cáo này là một cú ghi điểm tuyệt đối trong số những chiến dịch tiếp thị truyền miệng.



5/ Người xem vẫn không chia sẻ

Ngay cả khi mẩu quảng cáo tuyệt vời, có rất nhiều người thích thú nhưng không chia sẻ. Chỉ có một nhóm người chia sẻ nó. Nghiên cứu cho thấy rằng quảng cáo có được chia sẻ hay không tùy vào nhân cách của người xem nó. Có hai mẫu người thường chia sẻ là: Người hướng ngoại và người ích kỷ.

Nhóm người đầu tiên thì không có gì đáng ngạc nhiên, nhưng mẫu người thứ hai thì cho ta những thông tin thú vị. Những người ích kỷ luôn muốn tăng uy tín xã hội của họ nên họ thường treo quảng cáo trên thanh tình trạng của họ trong Yahoo Massenger hay Skype, như để chứng tỏ hương vị riêng của chính mình.

Theo: Nhuongquyenvietnam
Sưu tầm: Masgroup.vn
[Tư vấn Marketing4u - Trải nghiệm Marketing] Từ năm 2007 Facebook đã trở thành môi trường thử nghiệm cho những Marketer muốn quảng bá và đẩy cao doanh số thông qua kên truyền thông xã hội.Và xu hướng đã đã liên túc phát triển mạnh mẽ trong 5 năm qua. Facebook đã đổi từ giao diện cũ qua giao diện Timeline để dành chổ cho quảng cáo, quãng bá



Bài học mà các Social Marketing nhận được từ Facebook chính yếu là: Trong social Marketing có một mối quan hệ cộng sinh giữa nhận thức và sự tham gia ( khác hẳn so với marketing truyền thống hay thậm chí là Markting số)



Nói một cách đơn giản hơn, trong những kênh xã hội, những Marketer muốn thành công thì điều đầu tiên họ cần đó là gây được sự chú ý cho người tham gia trong kênh đó và "dựng" lên một cái gì đó cho họ làm. 



Mối quan hệ đặc biệt này - giữa quảng cáo và sự tham gia - có nhiều tác nhân xảy ra trong cách mà quảng cáo trên mạng xã hội được nhắm đến, thực hiện,  và đo lường.

Khách hàng mục tiêu: 
Khi một doanh nghiệp thực hiện quảng cáo truyền thống hay quảng cáo số, họ thường đưa ra một câu hỏi " Tôi muốn ai mua sản phẩm của tôi? " Tuy nhiên, khi họ nhấm đến môi trường Social Marketing, thì câu hỏi nên đặt ra lúc này là "Tôi muốn ai tham gia vào sản phẩm của tôi?" 

Trong khi mua chỉ đơn thuần là mua, thì tham gia lại có nhiều sắc thái khác nhau. Thế nào mới là tham gia? Câu trả lời còn tùy vào cách mà Marketer gây sự chú ý cho khách hàng. Đó có phải là một động lực xã hội để ủng hộ sản phẩm (giống như mì gấu đỏ một thời)? Hay đó là một cuộc thi tìm hiểu về sản phẩm (giống Apple làm khi sắp tung iphone 4s)? Hay hướng sự tìm tòi và khám phá của người dùng vào sản phẩm nhằm  kích cầu.

Trong nhiều trường hợp, câu trả lời có thể là "tất cả" tùy thuộc vào khách hàng mục tiêu, kênh xã hội công ty đang nhắm đến và kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Marketer trong trường hợp này cần nghĩ về kỹ về việc  họ sẽ gây sự chú ý cho ai.

Tiến hành 

Sự tham gia là một kinh nghiệm và việc tạo ra một môi trường để người tham gia mạng xã hội tham gia vào đã trở thành một nhân tố quan trọng trong Social Marketing

Trước đây, để tạo ra một môi trường có thể liên kết được Facebook, website, và thiết bị cầm tay gần như là không thể. Và khi công nghệ HTML5 và các thiết kế mang tính tương tác đã thay đổi điều đó. Nhờ đó, các Marketer hiện nay đã có thể thực hiện những chiến dịch Social Marketing một cách rộng rãi và có hiệu quả hơn.

Dù tồn tại những hạn chế, nhưng việc tạo nên những sự kiện thu hút vẫn là một nỗ lực để thu hút người tham gia. Xã hội là một môi trường truyền thông và Marketer phải biết cách thiết kế và tiến hành chiến dịch Social Marketing nhắm đúng đến khách hàng mục tiêu và tạo môi trường cho họ hoạt động.Và khi hoạt động của khách hàng càng quan trọng đối với sản phẩm hay thương hiệu, thì những sự kiện của bạn càng phải hấp dẫn và gợi mở để khách hàng tham gia. Và hãy nên nhớ, "không phải ai cũng làm việc" do đó hãy tìm cách để những "khách hàng đích thực" làm những việc quan trọng nhất.

Do lường kết quả

Kết quả của quảng cáo trên mạng xã hội không chỉ được đánh giá bằng số lượng click mà còn bằng một ma trận kết hợp giữa thương hiệu, chiến dịch, và sự kiện.

về tổng thể, có thể tính hiệu quả của yếu tố Nhận thức và tham gia có thể được đánh giá qua 3 yếu tố như sau: 

Nhận thức: Chiến dịch có "đánh" đúng khách hàng mục tiêu? Khách hàng có khác phá ra sản phẩm?
Sự tham gia: Sự tham gia của khách hàng có mang lại ý nghĩa gì cho bản thân họ không?
Sự khuếch đại: Khách hàng có chia sẻ hay truyền tải thông tin sự kiện?

Tin tốt là những kênh quảng cáo và tiếp thị xã hội phát triển rất nhanh, điều này cho phép Marketer có thể thống kê lại hiệu quả của cả 3 câu hỏi trên. và tin xấu là hệ thống ma trận nêu trên không phải dễ tình toán và phân tích.

Với những đặc điểm nêu trên, hiện tại Facebook đã cung cấp cho các Marketer giải pháp toàn diện về social marketing.

Nguồn: cmo
Sưu tầm: masgroup Vietnam
[Marketing4u - Thương hiệu] Không chỉ mang đến rủi ro, kinh tế khó khăn cũng đồng thời tạo ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp (DN) Việt Nam làm mạnh thương hiệu và tạo sự kết nối chặt chẽ hơn với khách hàng để tăng doanh thu.

Xây dựng thương hiệu như thế nào?

Yếu tố quan trọng giúp một thương hiệu thành công trong thời kỳ khó khăn là niềm tin và tình cảm người tiêu dùng (NTD) dành cho nó, hay nói cách khác là yếu tố “cảm xúc”. Nhiều thương hiệu ở Việt Nam không đuổi kịp đối thủ vì thất bại trong việc tạo niềm tin nơi khách hàng hiện tại hay khách hàng tiềm năng.

Không ít chủ DN trong nước chỉ quan tâm đến bài toán kinh doanh, chỉ xây dựng thương hiệu (XDTH) dựa trên lợi thế cạnh tranh về giá so với đối thủ trong cùng ngành. Trong khi đó, tiêu chuẩn sống của NTD được cải thiện khá nhiều và họ đặt kỳ vọng ngày càng cao vào các thương hiệu đang sử dụng.

Chúng ta nghe nhiều hơn những câu đại loại như: “Hãy làm cho tôi hứng thú hơn”, “Hãy làm cho tôi phấn khởi hơn”, “Hãy mang đến cái gì đó mới mẻ hơn đi”... và chưa kể đến một số khách hàng sẽ trì hoãn hoặc mua sắm ít hơn. Trong tình huống như thế, nếu một thương hiệu không có được yếu tố “cảm xúc” thì nó chỉ có thể cạnh tranh trên phương diện “chức năng” của sản phẩm.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý là những chức-năng-không-thể-thiếu trong ngày hôm qua, hôm nay hoàn toàn có thể trở thành cái “không có cũng chẳng sao” đối với NTD. Vậy yếu tố “cảm xúc” tác động tới thương hiệu như thế nào? 

Nhiều người Việt Nam hiện nay chọn thương hiệu để thể hiện cá tính của mình. Theo đó, không ít thương hiệu thuộc lĩnh vực ăn uống, may mặc, giải trí hằng ngày được chọn với lý do là đã định hình tính cách của khách hàng trong mắt bạn bè, gia đình và đồng nghiệp.

Trong giai đoạn khó khăn này, những thương hiệu đáng tin cậy càng được NTD đánh giá cao vì họ thực sự muốn tìm đến cái mà họ tin tưởng hoặc cảm thấy quen thuộc. Điều này lý giải tại sao những thương hiệu như thế có thể cho ra đời sản phẩm thành công, trong khi các nhãn hay ngành hàng mới khó tìm được chỗ đứng trong lòng NTD. 

“Lấy lòng” người tiêu dùng ra sao?

Để hiểu rõ hơn về tính tương tác giữa thương hiệu và NTD, chúng ta hãy xem xét những thương hiệu thành công có ý nghĩa thế nào đối với cảm xúc của NTD trong nước. Apple - suy nghĩ khác biệt; Honda - yêu sự tự do; Nike - truyền cảm hứng và không ngừng cải thiện; Heineken - làm mới tình bằng hữu, đặc biệt trong kinh doanh; Louis Vuitton - tăng sự tự tin; The Body Shop - giúp bạn cứu cả thế giới; Vinamilk - mang sức khỏe đến gia đình và xã hội; Nokia - kết nối chúng ta với người yêu thương...

Tất cả những yếu tố này gọi là lợi ích “cảm xúc” mà khách hàng thường dựa vào khi quyết định mua hàng trong thời kỳ khó khăn. Yếu tố này có sức mạnh rất lớn vì chúng là độc nhất và hầu như không thể bắt chước. 

Tôi muốn chia sẻ ba bước mà tại Công ty Tiếp thị và Xây dựng thương hiệu độc lập Red Brand Builders gọi là “phương pháp XDTH với tác động mạnh”, nhằm giúp tạo và định hình thương hiệu, giúp thương hiệu kết nối cảm xúc với NTD và giúp DN thành công trong giai đoạn thử thách. 

Tiếp xúc: Trọng tâm của “phương pháp XDTH với tác động mạnh” là tiếp xúc với khách hàng, hiểu đối thủ và thị trường, dõi theo và ôn lại những thay đổi trên thị trường trong giai đoạn thử thách rất quan trọng.

Tôi khuyên bạn và những nhân viên trụ cột nên bước ra khỏi văn phòng, quan sát, gặp gỡ và lắng nghe khách hàng của mình, đánh giá xem thị trường thay đổi thế nào và cuối cùng là xác định nguyên nhân chính khiến NTD mua hay không mua sản phẩm của bạn.

Nên nhớ, không dễ tạo được sự chú ý nơi NTD trong giai đoạn kinh tế khủng hoảng. Khách hàng vẫn chi tiêu nhưng hành vi tiêu dùng đã thay đổi đáng kể vì ngân sách eo hẹp và họ sẽ nghiên cứu kỹ hơn độ tin cậy của nhãn hàng cũng như cẩn thận trong từng khoản chi tiêu một. 

Hành động: Dựa trên sự thấu hiểu đó, DN “hành động” và xây dựng nền tảng cho một “tính cách thương hiệu” rõ rệt. Hãy tự hỏi mình những câu hỏi khó.

Đánh giá và tự hỏi xem tại sao thương hiệu bạn tồn tại, định nghĩa xem thương hiệu bạn tượng trưng cho điều gì và làm thế nào để tạo cầu nối cảm xúc với khách hàng mục tiêu.

Đặc biệt, trong giai đoạn này, nếu bạn hoặc nhân viên của bạn không rõ 100% thương hiệu mình tượng trưng cho điều gì, hoặc làm thế nào để thương hiệu bạn vượt trội thì đối tượng khách hàng mục tiêu của bạn cũng sẽ không hiểu.

Tính cách thương hiệu cần được định nghĩa rõ ràng, được ban lãnh đạo chấp nhận và được viết lại để tất cả nhân viên và cấp quản lý đều hiểu rõ tường tận trước khi bạn bỏ tiền ra quảng cáo hay giao tiếp với khách hàng mục tiêu.

Thu hút: Sau khi tạo ra “tính cách thương hiệu”, DN cần xác định tính cách ấy sẽ được thể hiện bằng cách nào và theo một cách kiên định nhất, nhằm “thu hút” khách hàng mục tiêu thông qua các kênh tiếp thị mà họ quan tâm như: logo, nhận dạng thương hiệu, màu sắc, hình ảnh, thông điệp, kênh quảng cáo, kênh PR, sự kiện, trang web, mạng xã hội...

Trong giai đoạn khó khăn, càng quan trọng hơn nữa nếu bạn có thể truyền tải cùng thông điệp cho toàn thể nhân viên, nhằm đảm bảo thương hiệu được hiểu rõ ràng về giá trị và lý do khách hàng sử dụng thương hiệu của bạn.

Đặc biệt, tài chính khó khăn càng làm con người có nhu cầu đơn giản mọi thứ, nên DN cũng “tạo xúc cảm” cho khách hàng bằng cách đơn giản hóa hoạt động tiếp thị và thông điệp chuyển tải.

Có thể việc cắt bớt ngân sách tiếp thị trong giai đoạn khủng hoảng dễ khiến DN nghĩ rằng đơn giản là cắt bỏ các hoạt động tiếp thị. Điều này không hoàn toàn đúng.

Theo nghiên cứu, những công ty thông minh và năng nổ duy trì sự tập trung làm cho thương hiệu dễ nhận thấy, tiếp tục đầu tư quảng cáo với tính cách thương hiệu đúng trong giai đoạn khủng hoảng thường sẽ mạnh hơn, chiếm lĩnh thị trường nhanh hơn và tăng trưởng doanh thu cũng tốt hơn.

Theo DNSG - CHRIS ELKIN - Giám đốc Điều hành Công ty Red Brand Builders
[Marketing4u - Mạng xã hội] Quảng cáo truyền thống lui bước trước các hình thức “tiếp thị tương tác” trên nền công nghệ internet.

Một sự thật không thể phủ nhận là phương thức quảng cáo truyền thống không còn hiệu quả tối đa trong thị trường ngày nay. Sự bùng nổ của internet và mạng xã hội đã đặt các tờ báo, tạp chí, thậm chí là cả truyền hình vào thế khó khăn hơn. 

Cùng với đó, các phương tiện quảng cáo thông thường như tờ rơi, trang vàng, bảng hiệu quảng cáo ngoài trời... cũng tỏ ra không còn hấp dẫn người tiêu dùng hiện đại. 

Sự đa dạng của các chương trình truyền hình thực tế cũng đã tạo ra những thay đổi về khán giả truyền hình. Quảng cáo truyền hình, quảng cáo ngoài trời trở nên quá đắt đỏ và chỉ những công ty lớn mới có thể đáp ứng nổi chi phí này...

Tại thị trường quảng cáo lớn nhất thế giới là Mỹ, năm 2011, mặc dù kinh tế suy thoái, nhưng chi phí quảng cáo, truyền thông qua kênh digital đã tăng 14%, trong khi đó, chi phí dành cho quảng cáo qua kênh truyền thống giảm 161% so với năm trước đó.

Sự thay đổi của tiếp thị và quảng cáo truyền thống dẫn đến sự ra đời các hình thức tiếp thị mới. Theo quản lý thương hiệu toàn cầu của Facebook, hình thức tiếp thị mới được gọi là “tương tác nhẹ nhàng”.

Đó là việc để tiếp cận người tiêu dùng ngày nay, các công ty và thương hiệu phải xây dựng được mối quan hệ với khách hàng, thay vì chỉ đơn giản thu hút sự chú ý của họ bằng các công cụ quảng cáo. Nói cách khác, tiếp thị sẽ cần thêm một “P” thứ năm là “tham gia” (Participation) bên cạnh các chữ P truyền thống: sản phẩm (Product), giá (Price), vị trí phân phối (Place) và khuyến mãi (Promotion). 

Facebook, mạng xã hội trực tuyến lớn nhất hiện nay, với hơn 750 triệu người dùng và hàng tỷ thông điệp của họ được đưa lên Facebook mỗi ngày là minh chứng thuyết phục cho thị hiếu tương tác của công chúng. Nhờ khả năng tương tác mạnh mẽ, Facebook giúp các thành viên kết nối và chia sẻ với nhau nhanh chóng, mọi lúc, mọi nơi. 

Hầu hết các thương hiệu lớn đều có các hoạt động trên Facebook. Tuy nhiên, cấp độ “tham gia” của các thương hiệu này khác nhau, dẫn đến những kết quả khác nhau. Hãng xe General Motor thì cho rằng Facebook không hiệu quả nên tạm dừng các hoạt động tiếp thị trên mạng xã hội. Trái lại, Ford lại đầu tư nhiều hơn cho quảng cáo trên Facebook.

Sự khác biệt giữa General Motor và Ford cho thấy, các nhà tiếp thị mới sẽ xây dựng mối quan hệ với đối tác và khách hàng tiềm năng bằng những hoạt động đúng thực chất của chữ P thứ 5, đó là tiếp cận với khác hàng trên tinh thần “bạn bè”, củng cố bằng các hoạt động trò chuyện, tán gẫu, chia sẻ những mối quan tâm chung... 

Trong marketing truyền thống, khách hàng bị động tiếp nhận những thông điệp chuyển tải từ thương hiệu. Còn với marketing tương tác, khách hàng có thể chủ động phản hồi và giữ vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông điệp của thương hiệu.

Truyền thông xã hội có các kênh tương tác rất đa dạng như mạng xã hội (như Facebook, Linkedin), chia sẻ đa phương tiện (như YouTube, Flickr, clip.vn), blogging (Wordpress, Yahoo360...), hay micro-blogging (như Twitter), các diễn đàn mạng, chia sẻ tin tức (YahooNews, Google news...), hỏi đáp (Yahoo Q&A...). 

Các hình thức tiếp thị trên nền truyền thông xã hội chỉ là khởi đầu của chữ P mới trong mối quan hệ gắn bó ngang hàng với khách hàng, dẫn đến các xu hướng tiếp thị mới trong tương lai gần như: Tiếp thị gần (Proximity Marketing) thông qua những thiết bị kết nối không dây như bluetooth, Wi Fi, GPS, NFC; Truyền thông xã hội có định hướng - tham gia vào những cuộc chuyện trò đó và khéo léo đề nghị khách hàng nhận xét, đánh giá về doanh nghiệp, sản phẩm của mình; Quản lý quan hệ khách hàng qua mạng truyền thông xã hội (Social CRM) - được sử dụng để theo dõi hành vi mua hàng của người tiêu dùng; Thương mại mọi nơi- thanh toán bằng PayPal hoặc Google Wallet hay bất kì một phương thức thanh toán nào khác để tạo điều kiện thuận lợi hơn người mua hàng...

Tại thị trường quảng cáo lớn nhất thế giới là Mỹ, năm 2011, mặc dù kinh tế suy thoái, nhưng chi phí quảng cáo, truyền thông qua kênh digital đã tăng 14%, trong khi đó, chi phí dành cho quảng cáo qua kênh truyền thống giảm 161% so với năm trước đó.

Theo DNSG (Hoàng Hà)
thoi-quen-tieu-dung[Marketing3k.vn] Công ty nghiên cứu thị trường Định Hướng (FTA) vừa công bố bảng tổng kết 12 xu hướng tiêu dùng chính ảnh hưởng đến cuộc sống của người Việt Nam trong năm 2012.

Theo ông Trần Ngọc Dũng, giám đốc điều hành của FTA, các xu hướng này có thể giúp các doanh nghiệp định hướng được nhu cầu thị trường và thiết kế các sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng hiện nay và trong tương lai.

12 xu hướng tiêu dùng này được xây dựng đặc biệt từ cái nhìn trực tiếp của người tiêu dùng (NTD) chứ không phải từ phía nhà sản xuất.

1. Tiếp tục dư chấn lạm phát: 94% người tiêu dùng cho rằng sẽ còn tác động vào hành vi tiêu dùng năm 2012

NTD ở TPHCM, Hà Nội và Đà Nẵng cho rằng họ sẽ vẫn còn bị ảnh hưởng trực tiếp của lạm phát đến đời sống. Theo kết quả nghiên cứu có 3 nhóm chịu ảnh hưởng nhiều bởi lạm phát:
  • Khu vực Đà Nẵng.
  • Nhóm tuổi lớn (41-50).
  • Đã lập gia đình.
Hầu hết đều cho rằng nền kinh tế Việt Nam sắp tới sẽ giữ nguyên (48%) hoặc xấu đi (36%).

Cũng qua nghiên cứu cho thấy NTD có xu hướng cắt giảm việc mua sắm ở các kênh hiện đại (Siêu thị, đại siệu thị, cửa hàng tiện lợi…) và chuyển sang chợ - là kênh bán hàng có giá thấp hơn. Đặc biệt, họ sẽ tranh thủ mua sắm thường xuyên hơn khi có các chương trình khuyến mãi.

Sống trong thời kỳ bão giá, người tiêu dùng buộc phải cắt giảm chi tiêu ở nhiều nhóm ngành hàng không thuộc nhu yếu phẩm. Các sản phẩm FMCG có vẻ ít bị ảnh hưởng (ngoại trừ bánh kẹo), người tiêu dùng trung thành đối với các nhãn hàng cũng như loại kích cỡ bao bì các mặt hàng FMCG mà họ thường dùng.

Hình thức sử dụng tiền nhàn rỗi mà hầu hết người tiêu dùng ưa chuộng nhất là những lĩnh vực có tính an toàn hơn là mang lại lợi nhuận cao như gửi tiết kiệm ngân hàng hoặc mua vàng hơn là đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, bất động sản hay chứng khoán.

2. Tôi yêu Việt Nam: với 71% tin tưởng vào hàng VN chất lượng cao

Hàng Việt Nam chất lượng cao được ưa chuộng vì chất lượng chấp nhận được và giá cả phải chăng. Bên cạnh đó các chương trình thúc đẩy và phát triển hàng Việt ngày càng được nhiều NTD hưởng ứng, ý thức “Người Việt dùng hàng Việt” ngày càng trở thành niềm tự tôn dân tộc đối với nhiều người.

Tuy nhiên trong tương lai để chiếm được cảm tình cũng như sự tin dùng trọn vẹn của người tiêu dùng thì hàng Việt vẫn phải tiếp tục phát triển những ưu điểm trên. 42% người tiêu dùng mong ‘Hàng Việt Nam chất lượng cao’ thật sự có chất lượng tốt, 24% mong giá cả hợp lý và 19% mong có thiết kế sản phẩm đẹp hơn.

NTD dẫu sao vẫn là NTD họ mong muồn một sản phẩm thực sự chất lượng và đáng giá với chi phí họ bỏ ra, đây là điểm mà hàng Việt cần phải đầu tư.

3. An toàn là bạn: với 84% người tiêu dùng quan tâm đến an toàn thực phẩm

Đây thực sự là một xu hướng xuyên suốt trong quá trình mua hàng của NTD, nhất là trong những năm gần đây khi mà những vấn đề an toàn thực phẩm thực sự trở nên nóng. Khi chọn mua thực phầm hay bất cứ sản phầm nào NTD đều cân nhắc 4 yếu tố: vệ sinh an toàn thực phẩm, thực phẩm tươi & ngon, giá cả phải chăn, không có chất bảo quản.

Người tiêu dùng quan tâm về an toàn thực phẩm thậm chí nhiều hơn giá cả và uy tín thương hiệu của sản phẩm, đặc biệt là ngành hàng FMCG. 36% người tiêu dùng sẽ tẩy chay hoặc thay đổi nhãn hiệu khác ngay lập tức khi khi họ biết rằng sản phẩm có thể vi phạm quy định an toàn thực phẩm. 50% người tiêu dùng nhận thấy sự khác biệt giữa thực phẩm có nhãn hiệu và không có nhãn hiệu ở mặt an toàn thực phẩm, vẻ bề ngoài, nguồn gốc và chất lượng. 50% NTD sẵn sang trả giá chênh lệch đến 15% cho một thương hiệu an toàn.

4. Chất lượng = nguồn gốc + nhãn hiệu

Đây là một xu hướng về quan điểm hàng chất lượng của NTD. NTD nhận thức rất rõ về chất lượng sản, họ có những lập luận và có những tiêu chuẩn riêng cho hàng chất lượng.. Hãy cũng nhìn nhận tiêu chí chung cho hàng chất lượng của NTD Việt Nam để xây dựng hình ảnh tin cậy nơi khách hàng:
  • 75% nói rằng hàng chất lượng có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
  • 60% nói rằng hàng chất lượng là nhãn hiệu của một nhà sản xuất uy tín trên thị trường.
  • 76% nói rằng đọ là những sản phẩm mà bạn bè và người thân họ tin dùng
  • 90% nói rằng chúng được mua từ siêu thị
  • 75% nói rằng nơi bán hàng phải được nhiều người biết đến có bảng hiệu rõ ràng
5. Vai trò của chuyên gia: với 80% xem xét mua khi nghe tư vấn từ chuyên gia

Khi nhận được thông tin sản phẩm chất lượng từ chuyên gia NTD đều tin tưởng về chất lượng sản phẩm, họ sẵn cân nhắc hoặc mua liền. Còn khi nhận thông tin này từ báo/tạp chí/truyền hình và từ bạn bè/người thân thì họ có xu hướng là tìm hiểu lại thông tin.

Không chỉ tin tường chuyên gia trong việc đánh giá chất lượng mà ngay cả khi nhận được thông tin sản phẩm kém chất lượng từ chuyên gia, đa số người tiêu dùng sẽ ngưng sử dụng ngay lập tức, hành động này rõ nhất khi nguồn thông tin xuất phát từ các chuyện gia (59%).

Việc xây dựng hình ảnh chuyên gia cho sản phẩm là một biện pháp quảng bá sản phẩm và kích thích mua rất hiệu quả.

6. Nhóm trẻ tiên phong 20-29: với 15 triệu người

Nữ giới 20-29 là người quyết định chính trong trong ngành hàng thực phẩm và đồ dùng thiết yếu (~80%) . Trong khi nam giới 20-29 là người quyết định chính nhiều hơn đối với các loại đồ dùng lâu bền và sản phẩm công nghệ(~95%).

Họ sẵn sàng chi nhiều hơn cho các nhà sản xuất uy tín 50% và cho sản phẩm có các tính năng phụ trội 44%. Họ chọn một sản phẩm dựa trên sở thích cá nhân 55%. Họ thường tìm kiếm thông tin trước khi mua hàng 49%.

Chợ và của hàng tạp hóa là nơi phổ biến nhất để mua các đồ dùng thiết yếu (bao gồm các sản phẩm chăm sóc cá nhân, sản phẩm vệ sinh,…). Siêu thị cũng là một kênh mua sắm quan trọng đối với họ.

Người tiêu dùng trẻ thuộc độ tuổi 20-29 mua áo quần và các sản phẩm chăm sóc sắc đẹp chủ yếu ở các shop quần áo/mỹ phẩm và các siêu thị. Bên cạnh đó, 15% là mua chợ và 11% ở trung tâm thương mại.

Khi mua các mặt hàng lâu bền (sản phẩm điện tử gia dụng: TV, máy giặt, tủ lạnh), người tiêu dùng trẻ ở độ tuổi 20-29 quan tâm nhiều nhất đến giá cả, độ bền, tiết kiệm nhiên liệu, bảo hành và thiết kế theo thứ tự lần lượt.

Đối với sản phẩm công nghệ (điện thoại, PC, laptop,..) họ xem xét nhiều hơn các yếu tố độ bền, uy tín thương hiệu, chế độ bảo hành và thiết kế. Giá cả dường như không phải là yếu tố quan trọng.

Truyền miệng đóng vai trò quan trọng nhất trong thói quen mua sắm của người tiểu dùng trẻ đối với các sản phẩm công nghệ cao và các đồ dùng lâu bền. Khi được người thân hoặc bạn bè trực tiếp giới thiệu họ có thể quyết định mua sản phẩm dễ dàng hơn khi xem quảng cáo trên truyền hình hoặc các nguồn thông tin khác.

Vai trò của QC trên TV khá quan trọng đối với việc chọn mua đồ dùng lâu bền, nhưng ít quan trọng hơn khi chọn mua sản phẩm công nghệ.

7. Tiêu dùng số: với 80% người dân truy cập internet hàng ngày ở thành phố lớn

Cuộc sống internet ngày càng phong phú, việc mua bán online đã trở thành một thói quen không thể thiếu của nhiều người. Với việc mua sắm này người tiêu dùng có nhiều điều kiện để tham khảo ý kiến của nhiều người mua về một sản phẩm. Việc được xem ý kiến đánh giá trước khi mua chính là nhu cầu thiết yếu của nhiều NTD vì vậy “Tiêu dùng số” hứa hẹn sẽ là một xu hướng rất phát triển trong tương lai.

xu-huong-tieu-dung-2012

8. Quyền lực nữ đang xuân: với 40% kinh doanh riêng và 90% quyết định chính chi tiêu gia đình

Phụ nữ trung niên 30 – 55 tuổi khá năng động, hầu hết có xu hướng vừa đi làm vừa kinh doanh riêng (40%). Thu nhập khoảng trên 20 triệu đồng 1 tháng, những phụ nữ trung niên độc lập về tài chính này chủ yếu thu lợi nhuận từ việc kinh doanh riêng, bên cạnh đó, đầu tư vàng – BĐS cũng là nguồn thu đáng kể.

3 mối quan tâm lớn nhất của phụ nữ trung niên là gia đình, sức khỏe và công việc. Trong đó, phụ nữ 45 – 55 tuổi dành nhiều tâm tư cho gia đình và sức khỏe hơn hẳn.

3 vấn đề sức khỏe chính của phụ nữ trung niên bao gồm huyết áp cao, loãng xương và thấp khớp. Trong đó, phụ nữ 30 – 40 tuổi dường như gặp vấn đề về huyết áp cao trong khi phụ nữ 45 – 55 tuổi gặp vấn đề loãng xương nhiều hơn.

Gia đình chiếm vị trí quan trọng trong cả những hoạt động giải trí của phụ nữ trung niên. Ngoài ra, mua sắm, hoặc đi spa, đi chơi thể thao cũng là những hình thức giải trí của phụ nữ trung niên. Phụ nữ 45 – 55 tuổi còn thường tham gia vào các hoạt động từ thiện.

Du lịch không phải là những hoạt động mà phụ nữ trung niên thường làm nhưng hầu hết đều mong muốn được đi du lịch.

Một số hành vi mua sắm chung của phụ nữ trung niên có thể tóm tắt như sau:
  • 90% quyết định chính viêc mua sắm trong gia đình
  • Tìm hiểu thông tin trước khi mua
  • Sẵn sàng trả giá cao hơn cho nhà sản xuất uy tín
9. Vì tương lai con em với chi phí 2 triệu đồng/tháng cho bé

Sẵn sàng đầu tư và chi nhiều cho các sản phẩm chất lượng cho bé. Trung bình hàng tháng, các bà mẹ chi 2 triệu đồng cho 1 bé.

02-xu-huong-tieu-dung-2012

10. Tiêu dùng xanh với 35% sẽ tạm ngưng ngay lập tức khi sản phẩm ảnh hưởng môi trường

Xu hướng này thể hiện ngay trong việc các hoạt động xã hội vì môi trường ngày càng được nhiều nhận thức và tham gia.

“Giờ trái đất” được nhận biết rộng rãi, yêu thích và gần gũi với người dân đã thu hút được 68% người dân hưởng ứng. Ý tưởng khuyến khích dùng túi xách sử dụng nhiều lần thu hút được đông đảo 52% người dân tham gia (trong số 59% người nhận biết)…

89% Người dân Hà Nội nhiệt tình hưởng ứng các hoạt động bảo vệ môi trường xanh trong tương lai, trong khi các thành phố khác không chắc chắn lắm.

35% người tiêu dùng các thành phố sẽ phản ứng tạm ngưng tức thì nếu sản phẩm sản xuất ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường.

72% Những người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý làm thế nào để sản xuất không ảnh hưởng đến môi trường.

Một công ty tích cực tham gia các hoạt động xã hội sẽ được người tiêu dùng chú ý và được cân nhắc nhiều hơn khi họ quyết định mua sản phẩm tới 60%

11. Văn hóa vùng miền, Hà Nội đòi hỏi dịch vụ VIP, Đà Nẵng nhạy cảm về giá, HCMC ít mua hàng ở chợ.

Vẫn còn tồn tại những khác biệt về văn hóa trong phong cách tiêu dùng của từng vùng miền, khi được hỏi: “Chăm sóc như VIP là những gì tôi thích” có đến 66% Người tiêu dùng Hà Nội đồng ý tán thành trong khi đó tỷ lệ này ở HCM là 48%. Nhưng 80% người NTD HCM lên án mạnh mẽ thái độ phục vụ tồi.

Ngoài ra họ còn có những khác biệt trong độ nhạy cảm về giá:

Những người ở miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long thích mua với số lượng lớn để tiết kiệm. Người tiêu dùng thành phố Hồ Chí Minh không quan tâm nhiều như các thành phố khác trong kế hoạch chi phí hàng tháng của họ. Người miền Bắc sẽ trả thêm tiền cho sản phẩm / dịch vụ đó nếu nó độc đáo và duy nhất. NTD Trung và Bắc thích thương lượng giá

Ngoại trừ thành phố Hồ Chí Minh, mua sắm ở chợ vẫn còn là trong ưu tiên của người tiêu dùng giữa các khu vực còn lại.

Khác biệt trong những ảnh hưởng của Quảng cáo tới quyết định mua hàng:

Người tiêu dùng thành phố Hồ Chí Minh ít mua sản phẩm ăn theo các quảng cáo. Người tiêu dùng tại các thành phố lớn đều thống nhất trong việc tin tưởng vào lời giới thiệu từ bạn bè. Những tấm biển quảng cáo ngoài trời thu hút sự chú ý nhiều hơn ở các thành phố lớn hơn

Quảng cáo LCD được rất nhiều ủng hộ tại thành phố Hồ Chí Minh.Quảng cáo với phí bảo hiểm sẽ hiệu quả hơn tại Hà Nội

Quảng cáo hài hước được ưa thích trên toàn thành phố, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh.

12. Ăn Tết hiện đại trên nền giá trị truyền thống

Những thay đổi mà NTD cảm nhận chủ yếu: “các hoạt động truyền thống chuẩn bị đón Tết hầu như không còn nữa”. Bởi sản phẩm ngày càng đa dạng và tiện lợi hơn, phong tục ăn Tết giản dị hơn. Ngoài ra, họ cho rằng “không khí ngày Tết không còn vui/ ấm áp như ngày trước”.

Thời gian mua sắm được rút ngắn lại, Người tiêu dùng ở những thành phố lớn có kế hoạch mua sắm trước Tết khoảng 1-2 tuần cho các sản phẩm: thức uống, bánh kẹo/ mứt, quà biếu. Bởi đây là thời điểm NTD chủ yếu chi tiền vào kênh mua tại 3 kênh: siêu thị, tiệm tạp hóa có bảng hiệu và metro.

Giá cả là một trong những yếu tố được quan tâm nhiều nhất đặc biệt là vào dịp Tết Nguyên Đán. Bởi hầu hết các sản phẩm đều tăng giá vào dịp này. Do đó, yếu tố quan trọng được cân nhắc chọn quà biếu được sắp xếp theo thứ tự: giá cả, bao bì dành riêng cho dịp Tết, bao bì cao cấp và nhãn hiệu nổi tiếng.

Các hoạt động truyền thống như chúc Tết ông bà, đến nhà bạn chơi và về quê được duy trì tuy nhiên, chúng ta có thể nhìn thấy sự khác biệt rõ nét về các hoạt động vào dịp Tết giữa 2 nhóm đối tượng: Teen & người lớn:
  • Teen: đi xem phim ở rạp, đi đến các khu vui chơi, chơi game…
  • Người lớn: chủ yếu xoay quanh việc thăm viếng và chúc Tết: đồng nghiệp, cấp trên và đối tác…
Các hoạt động truyền thông về sản phẩm tại các địa điểm rạp chiếu phim, nơi giải trí chủ yếu hướng đến nhóm đối tượng Teen. Các sản phẩm vào dịp Tết nên mang theo thông điệp lời chúc Tết để làm quà biếu khi thăm viếng.
(Phương Trinh - Theo FTAResearch)