A Pro Branding design Company

Logos Ads Brand identify designing and consulting

Portfolio

This is what we've been wroking on

Hiển thị các bài đăng có nhãn tư vấn thương hiệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tư vấn thương hiệu. Hiển thị tất cả bài đăng
[Quảng cáo sáng tạo] Để viết hay, hấp dẫn người đọc, đòi hỏi rất nhiều yếu tố: đề tài hay, lối dẫn dắt cuốn hút, câu chữ súc tích, dễ hiểu. Nhưng tất cả sẽ không có mấy ý nghĩa nếu thiếu đi ý tưởng sáng tạo (creative concept).

Đây chính là phần hồn để giúp một bài viết có sự quyến rũ của một câu chuyện. Một câu chuyện hay vẫn gây tò mò hơn là một bài viết học thuật. Như thế nào là một ý tưởng sáng tạo cho một bài viết? Thay vì giải thích câu chữ dài dòng, tôi xin lấy một ví dụ. Trong marketing, đã có hàng trăm bài viết về USP - Unique selling proposition (điểm bán hàng độc nhất) của một thương hiệu.

Cái USP trong tâm trí khách hàng này có cách nào diễn đạt hay ho hơn thay vì mô tả theo lối thông thường? Bạn đã bao giờ nghe đến từ "vantage point" (điểm chốt)? Đây là từ chỉ một vị trí địa lý độc đáo nào đấy. Ví dụ đêm giao thừa ai mà tìm được một điểm xem pháo hoa thì chỉ có nhất Trái đất!

Vậy bạn đã bao giờ xem bộ phim hành động cũng có tên Vantage point tuyệt hay của Hollywood? Bộ phim kể về... nhiều thứ hấp dẫn và bạn phải nín thở để xem vì hồi hộp từ đầu đến cuối. Chốt lại là ai có được một "điểm chốt", người đó sẽ có cơ hội chiến thắng.

Đọc đến đây chắc bạn đã hiểu ý tưởng sáng tạo là gì rồi. Khi viết về một USP của thương hiệu, "vantage point" chính là một "creative concept" rất đắt để thể hiện. Còn bộ phim trùng tên Vantage point chính là một thứ gia vị giúp bài viết có "mùi vị” của một câu chuyện.

Thay vì đọc một bài viết học thuật khô khốc, người đọc sẽ có cảm giác đọc một câu chuyện hay xem một bộ phim hành động hấp dẫn.

Vậy làm thế nào để có được một ý tưởng "gây nghiện"? Trong marketing, người ta hay nói "Content is the King" (nội dung là vua). Đối với một bài viết, tôi gọi "Concept is the King".

Vua phải có ngai vàng. Đã là ngai vàng tất nhiên không dễ chiếm. Bạn phải khát vọng cháy bỏng vì nó. Suốt ngày suốt đêm mất ăn mất ngủ vì nó. Chưa đủ. Bạn phải có năng lực để cướp lấy nó. Vẫn chưa đủ. Thỉnh thoảng bạn phải có đôi chút may mắn mới có thể sở hữu nó.

Quá trình để có được một concept hay để viết bài cũng diễn ra y chang như vậy. Làm nghề tư vấn thương hiệu, công việc của tôi là viết và viết. Chủ đề viết bài không thiếu, dẫn chứng thực tế có đầy. Nhưng khó nhất, vật vã nhất vẫn là tìm ra ý tưởng hay để chuyển tải. Có những lúc ý tưởng đến rất tình cờ khi đang xem một bộ phim, đang nghe một bản nhạc hoặc ngồi cà phê với bạn bè.

Nhưng bạn đừng nghĩ bỗng dưng "sung rụng vào miệng" nhé. Có nhiều bạn hỏi tôi bí quyết nào để có cách viết hay và ý tưởng hấp dẫn? Bí quyết duy nhất là bạn có bị "ám ảnh" về một đề tài để viết và có vật vã để tìm một ý tưởng để viết hay không.

Kể cả khi ý tưởng đến thì cũng không phải sự ngẫu nhiên. Đấy là kết quả của cả một quá trình trăn trở suy nghĩ từ trước đấy. Quá trình này dân trong nghề gọi là "ủ ý tưởng" (Incubation process). Joseph Sugarman là một trong những copywriter nổi tiếng nhất của Mỹ, ông cho rằng "Incubation process" là tiền đề không thể thiếu để có một "concept" hay.

Không như giải một bài toán, bạn không thể "quyết tâm" là có ngay "concept" trong một thời gian mặc định. Khi có ý định viết bài về một chủ đề nào đấy, trong đầu tôi nhảy nhót loạn xạ hàng chục ý tưởng. Nếu may mắn, tôi vồ được một ý tưởng tốt và bắt tay viết luôn. Nhưng đa phần, ý tưởng tốt chỉ đến khi tôi đã có đủ thời gian "ủ” đến đủ chín.

Thường khi đã có ý tưởng phù hợp, viết thành bài chỉ là loại lao động nông nhàn. Nhiều khi chỉ mất một tiếng đồng hồ cắm cúi là xong. Nhưng để có một tiếng đó, nhiều khi tôi phải mất mấy ngày, thậm chí hằng tuần để "ủ”. Tôi lại nhớ câu nói của Abraham Lincoln: "Nếu cho tôi 6 tiếng để chặt một cái cây, tôi sẽ dành đến 4 tiếng để mài rìu". Nếu một ngày tôi tình cờ được may mắn ngồi cà phê với bạn, nhỡ may tôi hơi xao nhãng câu chuyện của chúng ta, xin bạn đừng trách tôi vì có thể lúc đó tôi đang "mài rìu" đấy.

Nếu xem một bài viết là một vương quốc thì ý tưởng chính là vị vua. Bạn đã thấy một quốc gia nào không có một vị "vua" đứng đầu chưa?

theo Doanh Nhân Sài Gòn
Brand - Brand Name - Positioning[Tư vấn thương hiệuMột hệ thống nhận diện thương hiệu hiệu quả là yếu tố đầu tiên và cũng là tiên quyết để tạo dựng một hình ảnh thương hiệu mạnh. Câu định vị thương hiệu (slogan) là một công cụ rất quan trọng trong hệ thống nhận diện thương hiệu để giúp thương hiệu “tỏ tình” hiệu quả với người tiêu dùng.

Từ ngàn xưa, bật triết gia Khổng tử có câu “Một hình ảnh đáng giá một ngàn lời nói”

Tuy nhiên, khoa học ngày nay đã có nghiên cứu tỷ mỷ và có quan điểm ngược lại. Herbert Simon, người đã đoạt giải Nobel trong lĩnh vực nghiên cứu về trí nhớ con người cho rằng “Ngay cả khi bạn đọc, để có thể giữ điều đó trong bộ nhớ ngắn hạn, bạn đã dịch chuyển nó, ghi âm lại dưới dạng âm thanh”.

Nike vs Maxwell House

Nike đã nhận được không biết bao nhiêu lời tán dương cho mẫu logo cùng khẩu hiệu Just do it (Cứ hành động đi) của mình. Câu định vị thương hiệu của Nike có thực sự là yếu tố duy nhất khiến thương hiệu này trở thành một trong những thương hiệu được biết đến nhiều nhất trên thế giới?

Đã từ lâu, Nike nổi tiếng với những chiến dịch marketing tốn kém với sự góp mặt của các vận động viên nổi tiếng nhất thế giới (Michael Jordan – vận động viên bóng rổ của Mỹ là một thành công điển hình). Theo tờ New York Times thì Nike đã bỏ ra 678 triệu USD cho quảng cáo năm 2006 chỉ riêng tại thị trường Mỹ. Dĩ nhiên những thương hiệu toàn cầu như Nike khi có sự hậu thuẫn từ ngân sách marketing khổng lồ, họ có thể dễ dàng gõ cửa từng người tiêu dùng khắp mọi ngõ ngách trên khắp thế giới. Với hệ thống phân phối rộng khắp và ngân sách quảng cáo khổng lồ không có gì lạ khi Nike đã ghi ấn sâu đậm trong tâm trí người tiêu dùng.

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu khẩu hiệu “Just do it” kia không thuộc về Nike? có thể giờ đây “Just do it” không được ngợi ca và phổ biến như nó đã từng có.

Khi những thương hiệu vừa và nhỏ không có nhiều ngân sách cho hoạt động marketing, một Slogan hay là con đường ngắn nhất để mọi ngưới chú ý đến bạn.

Rất nhiều người biết đến slogan “Good to the last drop” (Thơm ngon đến giọt cuối cùng) của thương hiệu cà phê Maxwell House. Xuất xứ của câu slogan này bắt nguồn từ một câu chuyện rất tình cờ. Franklin Roosevelt, cựu tổng thống Mỹ, vốn rất thích uống cà phê. Trong một dịp ghé qua hội chợ vùng Mashville, Tennessee, ông được mời một ly cà phê nóng hổi của Maxwell House. Vị ngon của nó đã khiến ngài tổng thống không thể nén nổi cảm xúc mà thốt lên rằng: “Good to the last drop!”. Về sau, câu nói này được Maxwell House sử dụng làm slogan và có lẽ, câu slogan này còn nổi tiếng hơn rất nhiều so với bản thân tên thương hiệu.

Slogan: ngắn không phải bao giờ cũng ưu thế

Đa số ý kiến đều nghĩ rằng một slogan ngắn bao giờ cũng có nhiều lợi thế hơn dài.Dĩ nhiên ngắn bao giờ cũng dễ nhớ ngay lúc đọc. Nhưng một slogan ngắn không có nghĩa là là được nhớ lâu, và quan trọng hơn, nó không đảm bảo là sẽ được yêu thích.

Ai cũng biết và rất yêu thích câu slogan “Vị ngon trên từng ngón tay” của thương hiệu đồ ăn nhanh KFC. Sau gần 50 năm sử dụng, năm 2011 nó đã được đổi thành “So good” (“Thật tốt”?). Cho dù có KFC có lý giải ý nghĩa gì đi chăng nữa, câu slogan mới của họ thật khó đi vào lòng người bằng câu cũ. Cho dù “Thật tốt” rất ngắn, ngắn hơn rất nhiều so với “Vị ngon trên đầu ngón tay”.

Bạn nghĩ sao về câu slogan của City Bank “City never sleeps” (“Thành phố không bao giờ ngủ”). Nó đâu có ngắn lắm đâu (nhất là phiên bản tiếng Việt), đúng không nào? Nhưng theo tôi đây là một trong những câu slogan tuyệt nhất. Cả về ý nghĩa lẫn ngôn ngữ thể hiện: “The City” là cách chơi chữ độc đáo (trùng tên thương hiệu “City Bank”). “never sleep” hàm ý dịch vụ của City Bank luôn sẵn sàng phục vụ khách hàng 24/24h. Thật tuyệt.

Khi người ta hỏi tổng thống Mỹ Abraham Lincoln chiều dài của đôi chân phải là bao nhiêu là phù hợp với cơ thể con người, ông đã trả lời: “Nó phải đủ dài để chạm đến nền đất”.

Một slogan hiệu quả không nằm ở vấn đề ngắn hay dài. Quan trọng là nó phải thể hiện một thông điệp có ý nghĩa như thế nào với người nghe.

Slogan là công cụ thể hiện khác biệt hóa thương hiệu

Một slogan hiệu quả không nằm ở vấn đề ngắn hay dài. Quan trọng là nó phải thể hiện một thông điệp có ý nghĩa như thế nào với người nghe.

Khi đã tìm ra điểm khác biệt hóa thương hiệu của mình, slogan là công cụ hiệu quả nhất để nói điều đó với khách hàng.

Xe Mercedes-Benz có ưu uy tín hơn đối thủ về uy tín sản phẩm và họ đã có câu “”Engineered like no other car in the world.”

Nói đến Volvo, mọi người đều nghĩ đến đó là loại xe có độ an toàn cao. Câu slogan của Volvo nói rất rõ lợi ích này: “Vì cuộc sống của bạn” (“For life”)

Ở Canada, kênh truyền hình Naked News (sự thật trần trụi) rất phổ biến. Điểm mạnh của kênh này là luôn đưa tin trung thực và khai thác triệt để đến cùng các nguồn tin mà họ có được. Câu slogan “Không có gì phải dấu” kết hợp cùng tên thương hiệu “Sự thật trần trụi” quả thật đã lột tả rất thành công điểm khác biệt thương hiệu này.

Slogan cần nhấn mạnh lợi ích thương hiệu

* “Nơi những người giỏi nhất vẫn có thể trở nên giỏi hơn/Where the best become better” – Trung tâm Anh ngữ Apollo

* “Học ở đây. Graduate anywhere” – Language Link

* “Vị ngon trên từng ngón tay” – KFC

* “Thành phố không bao giờ ngủ/City never sleeps” – City Bank

* “Duy nhất đậu nành. Riêng dành cho bạn” – VinaSoy

* “Biti’s – Nâng niu bàn chân Việt” – Biti’s

* “Chỉ tan trong miệng, không tan trên tay” – M&M

Có một điều rất đúng là khách hàng thường bị thu hút bởi lợi ích thương hiệu. Mặt khác, mối quan tâm đến lợi ích lại có khả năng bị chi phối bởi những đặc điểm riêng biệt của sản phẩm khách hàng chọn mua. Đặc điểm độc đáo của kẹo M&M (lớp vỏ cứng bên ngoài giữ cho nhân sôcôla bên trong không bị chảy khi cầm trong tay) cũng có giá trị tuơng đương với lợi ích mà khách hàng thu được.


Câu chuyện về trung tâm đào tạo tiếng Anh Apollo có thể là một ví dụ minh hoạ tương đối hay. Câu định vị thương hiệu Apollo “Where the best becomes better” (Nơi những người giỏi nhất vẫn có thể giỏi hơn) rất phổ biến với các bạn sinh viên cũng như học sinh trung học, kể cả những người không học tại Apollo. Thú vị hơn cả, rất nhiều người nghe thấy và yêu thích câu định vị này trước cả khi họ biết đến cái tên Apollo.

Khách sạn The Hay-Adams, một khách sạn sang trọng và mang đậm dấu ấn lịch sử tại Washington D.C, đã biến vị trí tọa lạc đối diện Nhà Trắng đặc thù của khách sạn trở thành thuộc tính độc đáo qua slogan “Where nothing is overlooked but the White House“ (tạm dịch: Nơi bạn không thấy bất cứ thứ gì ngoài Nhà Trắng). Cho đến hôm nay câu định vị này vẫn tiếp tục thể hiện được điểm khác biệt thương hiệu của The Hay-Adams.

Khi slogan được sáng tạo với vần điệu dễ nhớ, chúng hoàn toàn có thể tác động lên cảm xúc của khách hàng. Chúng ta thấy rằng rất nhiều câu slogan rất ấn tượng ở trên hoàn toàn không hề ngắn, thậm chí có một số câu còn rất dài.

Trong một bài viết của mình trên tạp chí Advertising Age, cha đẻ của định vị thương hiệu Al Ries cho rằng: một slogan cần “đủ dài” để kết nối cảm xúc với khách hàng.

Nguồn: Nguyễn Đức Sơn (VietnamMarcom)
[Tổ chức sự kiện] Bốn nhân tố chính giúp doanh nghiệp tạo ra những câu chuyện đặc sắc, chân thành có thể lôi kéo được khách hàng tiềm năng đến với mình.

Gắn kết chân tình và xây dựng mối quan hệ. Một câu chuyện đáng nhớ thường được sẻ chia giữa bạn bè hoặc các thành viên trong gia đình, những người mà ai cũng cảm thấy thoải mái và gần gũi để bày tỏ. Điều tương tự cũng xảy ra khi một doanh nghiệp xây dựng mối quan hệ với người tiêu dùng. Uy tín, trung thực và sự chân thành là những yếu tố rất cần thiết để tạo nên và nuôi dưỡng mối quan hệ lành mạnh, bền vững với khách hàng. Sẽ không gì tuyệt vời hơn nếu khách hàng tin tưởng doanh nghiệp đủ để họ an tâm thổ lộ những hy vọng, bí mật và nhu cầu của mình.

Lên kế hoạch thật chi tiết và khám phá từ nhiều góc cạnh khác nhau. Khi khắc họa nên một câu chuyện kể với khách hàng, doanh nghiệp phải lên kế hoạch từ sớm và tìm hiểu kỹ những thách thức có thể gặp. Có những bước đi phù hợp để khuyến khích khách hàng thể hiện bản thân và đưa ra cảm nhận về thương hiệu của doanh nghiệp mà có thể họ chẳng bao giờ chủ động nói ra với các nhãn hiệu tương tự khác.

Thí dụ, thay vì hỏi ý kiến khách hàng về một sản phẩm kẹo ngọt mới, hãy thử đề nghị họ tưởng tượng đến một thanh kẹo ngọt lý tưởng nhất. Hay kêu gọi các bậc phụ huynh sử dụng điện thoại ghi hình lại cách phản ứng của con em mình khi chọn lựa kẹo trong cửa hàng. Sử dụng nhiều hình thức đa dạng, sáng tạo khác nhau để xây dựng nên một câu chuyện có thể bộc lộ được những ý tưởng mới, những nhu cầu chưa đạt được và trên hết là tạo cơ hội mới cho doanh nghiệp.

Sử dụng trực giác để tìm ra câu chuyện thật sự đáng kể và đáng quan tâm với khách hàng. Một khi đã vượt qua giai đoạn thu thập thông tin và gia tăng mức độ hiểu biết trọn vẹn về nhóm khách hàng mục tiêu, đã đến lúc tiến hành quá trình “chưng cất”. Việc làm này chỉ có thể được thực hiện thông qua khả năng phán đoán và suy luận.

Doanh nghiệp có thể tìm kiếm câu chuyện hoặc bằng cách diễn dịch, đưa ra những chủ đề hay xu hướng mới từ thông tin có được, hoặc theo cách quy nạp, nghĩa là kiểm tra lại tất cả những thông tin để kết luận liệu giả thiết ban đầu đưa ra có hợp lý hay không. Một khi đã xác định được đâu là câu chuyện thật sự phù hợp với hoạt động doanh nghiệp, hãy tìm cách đưa câu chuyện trở thành một phần trong chiến lược kinh doanh của tổ chức.

Chẳng hạn, Công ty Truyền thông EE (Everything Everywhere) của Anh luôn nghĩ rằng khách hàng rất yêu quý chiếc điện thoại di động của mình. Nhưng sau khi lắng nghe khách hàng chia sẻ về những câu chuyện cá nhân khi họ làm mất, để quên hay rơi hỏng chiếc điện thoại, EE mới biết rằng khách hàng chỉ quan tâm đến những gì bên trong chiếc điện thoại – hình ảnh, video clip, danh bạ và cả tin nhắn trao đổi với bạn bè.

Ngay sau đó, EE đã tung ra dịch vụ Clone Phone mang đến giải pháp dự phòng, sao lưu thông tin và thậm chí cam kết thay đổi chiếc điện thoại bị mất hay hỏng trong vòng 24 giờ. Dịch vụ mới Clone Phone đã thành công ngay lập tức với hơn 250.000 đăng ký thuê bao chỉ trong vòng sáu tháng đầu tiên.

Khơi gợi cảm xúc để tạo nguồn cảm hứng cho hành động. Một câu chuyện kể không chỉ được lắng nghe, mà còn phải được cảm nhận và ghi nhớ. Bản chất tâm lý của con người là thích chia sẻ sự thấu hiểu của mình về những câu chuyện. Trong bối cảnh doanh nghiệp, một câu chuyện có thể được truyền bá theo những định dạng khác nhau, tùy theo mức độ phức tạp và nội dung câu chuyện, nhưng mục đích của chúng đều phải tương tự nhau: khơi dậy cảm xúc và kết nối với công chúng trên mức độ nhân sinh quan.

Một khi được hiểu thấu và cảm nhận, những câu chuyện ấy sẽ lan tỏa đến toàn bộ tổ chức và khiến cho từ giám đốc đến nhân viên đều quyết tâm hành động, tiến về phía trước, phục vụ tốt hơn cho khách hàng, tiếp tục truyền đi và khơi nguồn cảm hứng cho khách hàng…

Theo Hà Lam (DNSGCT/INC)
business plan[Thương hiệu]  Khi mới bắt đầu khởi nghiệp, việc xác định mục tiêu và hướng đi rõ ràng là điều tối quan trọng. Cách tốt nhất để làm việc này là viết một bản kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh.

Tại sao công việc đầu tiên phải làm là viết bản kế hoạch kinh doanh?
  1. Định hình được những việc cần phải làm để hoàn thành công việc kinh doanh
  2. Miêu tả một cách chi tiết cách thức tiến hành những việc cần làm trên
  3. Nhận diện điều gì làm nên điểm khác biệt, độc đáo trong việc kinh doanh của bạn
  4. Thành lập hội đồng lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp
  5. Nhận biết rõ kích thước thị trường kinh doanh
  6. Xác định rõ thị trường khách hàng mục tiêu
  7. Lên ý tưởng những chiến dịch tiếp thị
  8. Phân rõ các nguồn thu
  9. Dự tính chi phí toàn bộ cho việc khởi nghiệp

Thống kế dân số thế giới


S.T Nhà tư vấn thương hiệu
theo Phong Linh (Trí thức trẻ/Entrepreneur)
The top 25 Most Powerful Corporate Brands 2014[Tư vấn thương hiệuCoca-Cola là thương hiệu toàn cầu "hùng mạnh" nhất, theo một báo cáo gần đây từ CoreBrand. 

Tổ chức biên soạn thứ hạng năm 2014, bằng cách lấy ý kiến của 10.000 chuyên gia kinh doanh về ấn tượng của họ đối với các thương hiệu hàng đầu ở cấp độ doanh nghiệp, không phải sản phẩm cá nhân hoặc đơn vị. Các chuyên gia được yêu cầu đánh giá sức mạnh của thương hiệu dựa trên hai tiêu chí:
  1. Sự quen thuộc (Như thế nào là thương hiệu được biết đến? ) 
  2. Và Được ưa thích (Thương hiệu có uy tín tích cực, quản lý thương hiệu tốt, và tiềm năng đầu tư tốt?) .
Coca-Cola đã được xếp hạng một kể từ năm 2008, khi phát hành CoreBrand đầu tiên. Khoảng cách giữa Coca-Cola và Hershey, thương hiệu được xếp thứ hai năm 2014 là lớn nhất giữa bất kỳ hai thương hiệu được liệt kê liên tục trong danh sách ( 2,8 điểm ).

Amazon.com đã tăng điểm mạnh nhất so với năm trước, tăng 25 vị trí xếp hạng thứ 91 . IBM đã tăng cao thứ hai, tăng 15 vị trí xếp hạng thứ 49 . 

Trong số 25 thương hiệu hàng đầu, Microsoft đã có mức tăng mạnh nhất, lên chín vị trí , xếp hạng thứ 11. Microsoft tăng 34 vị trí từ năm 2008. Google là tăng nhiều nhất kể từ năm 2008, tăng 90 vị trí đến ở vị trí thứ 26 . 

UPS , Walgreens, và CBS đã tụt hạng lớn nhất trong năm qua: UPS đã từ vị trí 11 giảm xuống vị trí 22 ; Walgreens đã giảm từ 12 đến 23 ; và CBS đã giảm từ 58 đến 69 . Trong top 10 , Kellogg đã có sự mất mát lớn nhất , giảm bốn vị trí từ thứ 5 đến thứ 9. CBS đã có sự suy giảm lớn nhất kể từ năm 2008, mất 48 vị trí từ thứ hạng cao của nó từ vị trí 21. 

Dưới đây là những phát hiện bổ sung từ CoreBrand và 25 nhãn hiệu của công ty hàng đầu trong danh sách. (Danh sách Top 100 có thể được truy cập ở đây ).


Chi phí quảng cáo 

Top 5 cổ phiếu tăng giá trong danh sách top 100 thương hiệu đã cắt giảm chi tiêu quảng cáo của họ chỉ 17,5% trên trung bình trong suốt năm 2009 vào thời kỳ suy thoái kinh tế; đó là so với một vết cắt 34,8% trên trung bình cho năm thương hiệu với sự sụt giảm lớn nhất . 

Đến năm 2010, 5 thương hiệu công ty trên đã tăng tương đối so với mức đầu tư năm 2008, trong khi nó đã giảm cho đến năm 2012, các công ty chỉ đầu tư để khôi phục lại mức năm 2008.


Khả năng phục hồi 

Nhìn chung, 100 thương hiệu hàng đầu đã cho thấy khả năng phục hồi trong cả hai chỉ tiêu Quen thuộc và Được ưa thích với người trả lời cuộc khảo sát từ năm 2008, với hầu hết các chỉ tiêu đánh giá có sự giảm nhẹ trong thời suy thoái kinh tế. 

Kể từ mức thấp nhất trong năm 2010, 25 thương hiệu hàng đầu đã đạt được 0,2 điểm trong điểm số trung bình của họ ; thương hiệu xếp hạng 26-50 là tăng 1,8 điểm; thương hiệu 51-75 là tăng 2,6 điểm; và thương hiệu 76-100 là tăng 3,2 điểm.