A Pro Branding design Company

Logos Ads Brand identify designing and consulting

Portfolio

This is what we've been wroking on

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư vấn Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư vấn Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng
[Quảng cáo sáng tạo] Để viết hay, hấp dẫn người đọc, đòi hỏi rất nhiều yếu tố: đề tài hay, lối dẫn dắt cuốn hút, câu chữ súc tích, dễ hiểu. Nhưng tất cả sẽ không có mấy ý nghĩa nếu thiếu đi ý tưởng sáng tạo (creative concept).

Đây chính là phần hồn để giúp một bài viết có sự quyến rũ của một câu chuyện. Một câu chuyện hay vẫn gây tò mò hơn là một bài viết học thuật. Như thế nào là một ý tưởng sáng tạo cho một bài viết? Thay vì giải thích câu chữ dài dòng, tôi xin lấy một ví dụ. Trong marketing, đã có hàng trăm bài viết về USP - Unique selling proposition (điểm bán hàng độc nhất) của một thương hiệu.

Cái USP trong tâm trí khách hàng này có cách nào diễn đạt hay ho hơn thay vì mô tả theo lối thông thường? Bạn đã bao giờ nghe đến từ "vantage point" (điểm chốt)? Đây là từ chỉ một vị trí địa lý độc đáo nào đấy. Ví dụ đêm giao thừa ai mà tìm được một điểm xem pháo hoa thì chỉ có nhất Trái đất!

Vậy bạn đã bao giờ xem bộ phim hành động cũng có tên Vantage point tuyệt hay của Hollywood? Bộ phim kể về... nhiều thứ hấp dẫn và bạn phải nín thở để xem vì hồi hộp từ đầu đến cuối. Chốt lại là ai có được một "điểm chốt", người đó sẽ có cơ hội chiến thắng.

Đọc đến đây chắc bạn đã hiểu ý tưởng sáng tạo là gì rồi. Khi viết về một USP của thương hiệu, "vantage point" chính là một "creative concept" rất đắt để thể hiện. Còn bộ phim trùng tên Vantage point chính là một thứ gia vị giúp bài viết có "mùi vị” của một câu chuyện.

Thay vì đọc một bài viết học thuật khô khốc, người đọc sẽ có cảm giác đọc một câu chuyện hay xem một bộ phim hành động hấp dẫn.

Vậy làm thế nào để có được một ý tưởng "gây nghiện"? Trong marketing, người ta hay nói "Content is the King" (nội dung là vua). Đối với một bài viết, tôi gọi "Concept is the King".

Vua phải có ngai vàng. Đã là ngai vàng tất nhiên không dễ chiếm. Bạn phải khát vọng cháy bỏng vì nó. Suốt ngày suốt đêm mất ăn mất ngủ vì nó. Chưa đủ. Bạn phải có năng lực để cướp lấy nó. Vẫn chưa đủ. Thỉnh thoảng bạn phải có đôi chút may mắn mới có thể sở hữu nó.

Quá trình để có được một concept hay để viết bài cũng diễn ra y chang như vậy. Làm nghề tư vấn thương hiệu, công việc của tôi là viết và viết. Chủ đề viết bài không thiếu, dẫn chứng thực tế có đầy. Nhưng khó nhất, vật vã nhất vẫn là tìm ra ý tưởng hay để chuyển tải. Có những lúc ý tưởng đến rất tình cờ khi đang xem một bộ phim, đang nghe một bản nhạc hoặc ngồi cà phê với bạn bè.

Nhưng bạn đừng nghĩ bỗng dưng "sung rụng vào miệng" nhé. Có nhiều bạn hỏi tôi bí quyết nào để có cách viết hay và ý tưởng hấp dẫn? Bí quyết duy nhất là bạn có bị "ám ảnh" về một đề tài để viết và có vật vã để tìm một ý tưởng để viết hay không.

Kể cả khi ý tưởng đến thì cũng không phải sự ngẫu nhiên. Đấy là kết quả của cả một quá trình trăn trở suy nghĩ từ trước đấy. Quá trình này dân trong nghề gọi là "ủ ý tưởng" (Incubation process). Joseph Sugarman là một trong những copywriter nổi tiếng nhất của Mỹ, ông cho rằng "Incubation process" là tiền đề không thể thiếu để có một "concept" hay.

Không như giải một bài toán, bạn không thể "quyết tâm" là có ngay "concept" trong một thời gian mặc định. Khi có ý định viết bài về một chủ đề nào đấy, trong đầu tôi nhảy nhót loạn xạ hàng chục ý tưởng. Nếu may mắn, tôi vồ được một ý tưởng tốt và bắt tay viết luôn. Nhưng đa phần, ý tưởng tốt chỉ đến khi tôi đã có đủ thời gian "ủ” đến đủ chín.

Thường khi đã có ý tưởng phù hợp, viết thành bài chỉ là loại lao động nông nhàn. Nhiều khi chỉ mất một tiếng đồng hồ cắm cúi là xong. Nhưng để có một tiếng đó, nhiều khi tôi phải mất mấy ngày, thậm chí hằng tuần để "ủ”. Tôi lại nhớ câu nói của Abraham Lincoln: "Nếu cho tôi 6 tiếng để chặt một cái cây, tôi sẽ dành đến 4 tiếng để mài rìu". Nếu một ngày tôi tình cờ được may mắn ngồi cà phê với bạn, nhỡ may tôi hơi xao nhãng câu chuyện của chúng ta, xin bạn đừng trách tôi vì có thể lúc đó tôi đang "mài rìu" đấy.

Nếu xem một bài viết là một vương quốc thì ý tưởng chính là vị vua. Bạn đã thấy một quốc gia nào không có một vị "vua" đứng đầu chưa?

theo Doanh Nhân Sài Gòn
C.E.O Apple: Steve Jobs[Thương hiệu] Marketing Online đang là một trong những từ khóa hot nhất trong lĩnh vực marketing. Trên Google, từ khóa “marketing online” có hơn 1,2 tỷ kết quả trong 0,16 giây; từ “marketing chiến lược” là 4,3 triệu kết quả trong 0,36 giây; “marketing strategy” là 286 triệu kết quả. Tóm lại, marketing chiếc lược thua xa một khái niệm marketing mới mẻ: marketing online...

Marketing online đang khiến thị trường marketing sôi động. Dường như tất cả các doanh nghiệp đều muốn online. Tuy nhiên, liệu marketing có phải là câu trả lời cho các vấn đề các doanh nghiệp đang vấp phải trong thời buổi kinh tế khó khăn?

Phương tiện có thay cho mục đích?

Marketing online là một kênh bán hàng tuyệt vời trong thời đại internet ngày càng gia tăng tầm ảnh hưởng trong hành vi mua hàng của người tiêu dùng. Tuy nhiên, bản chất của internet là gì?

Môi trường internet là một kênh truyền dẫn thông tin, như các kênh truyền dẫn thông tin trước đây từng tồn tại như sách, báo, radio, truyền hình v.v... Cũng như những kênh truyền dẫn thông tin khác, internet có đặc điểm riêng biệt. Đó là lý do marketing online có những tính chất khác biệt so với hoạt động marketing trên các kênh thông tin khác.

Tuy nhiên, marketing online dẫu sao cũng vẫn chỉ là một kênh truyền dẫn thông tin, không hơn! Dẫu rằng hoạt động marketing dựa trên kênh truyền dẫn thông tin mạnh nhất cũng không thể thay được chiến lược marketing tổng thể. Nói cách khác, phương tiện không thể thay cho mục đích được!

“The Subservian Chicken” (Chú gà giúp ích) là một trong những chiến dịch marketing online nổi tiếng bậc nhất thế giới. Người dùng internet rất thích thú trước hình tượng The Subservian Chicken. Subservian Chicken cũng giúp Công ty Burger King tăng mức doanh thu. Tín hiệu tốt? Chưa hẳn! Bởi cùng thời gian đó, McDonald’s không có chiến dịch gì đáng kể nhưng mức tăng doanh thu vẫn cao hơn so với Burger King. Nói cách khác, người dùng internet yêu thích Subservian Chicken nhưng không giúp Burger King nhiều. Thực tế, Burger King đã bị những thương hiệu đồ ăn nhanh khác như Subway, Wendy vượt mặt.


John Carter, bộ phim siêu anh hùng bom tấn với vốn đầu tư vô tiền khoáng hậu của Walt Disney với dàn diễn viên hạng sao kỳ vọng là cục nam châm hút tiền về cho Wal Disney. Trailer của John Carter được chia sẻ nhiều nhất trong các trailer phim của năm qua kênh Youtube, được share với quy mô rộng trên Facebook. Tuy nhiên, sau khi trình chiến, bộ phim thất bại thảm hại. Từ hành động like và share trên mạng đến hành động mua vé xem phim là một khoảng cách không dễ lấp đầy.

Ba năm trước, thị trường nước ta bùng nổ kênh bán hàng online mang tên Groupon. Vào thời điểm cao trào của làn sóng groupon, nhiều chủ đầu tư đã coi kênh bán hàng này là cứu cánh.

Tuy nhiên, groupon cũng như những kênh marketing online, đó là một kênh bán hàng. Nó mang lại doanh thu, nhưng để tạo dựng thương hiệu, doanh nghiệp phải tạo được tính cách, hình ảnh và định vị riêng biệt trong tâm trí khách hàng.

Theo khảo sát của người viết, riêng trong lĩnh vực cửa hàng pizza, hơn 40% trong số những nhà hàng pizza tại Hà Nội từng chạy qua kênh bán hàng Groupon trong ba năm qua giờ đã ngừng hoạt động.


Marketing online chỉ là một phương tiện, dù đó là một phương tiện hết sức mạnh mẽ.

Như ông tổ của quảng cáo hiện đại David Ogilvy từng nói: “Nếu bạn có một ý tưởng thực sự lớn, chiến thuật kém cỏi không giết chết ý tưởng đó được. Nhưng nếu bạn không có ý tưởng lớn, chiến thuật tốt cũng chẳng có ích gì” (If you have a truly big idea, the wrong technique won’t kill it. If you don’t have a big idea, the right technique won’t help you).

Liệu có hy vọng nào cho những sản phẩm sử dụng thuần thục kênh marketing nhưng có chiến lược kém cỏi?

Chỉnh hướng con thuyền với lỗ thủng dưới dáy

Trong cuộc phỏng vấn lịch sử All Thing Digital giữa hai huyền thoại tạo lập nên nền tảng internet hiện đại là Steve Jobs và Bill Gates, Steve Jobs đã có một câu nói lịch sử: “Khi tôi quay trở về lại Apple, Gil Amelio, CEO lúc đó của Apple đã nói với tôi: Apple là một con thuyền thủng đáy trong khi đó công việc của tôi là chỉnh con thuyền đi đúng hướng”.

Sau khi Steve Jobs về lại Apple với chức vụ iCEO - CEO tạm quyền, ông đã họp nhân viên, chỉ ra những sản phẩm đang có của Apple và nói: “Đây là một mớ sản phẩm hỗn tạp, không có chút gì hấp dẫn người tiêu dùng”.

Và ông quyết định khai tử toàn bộ các sản phẩm với những seri lộn xộn và thiếu cá tính, tập trung cho việc ra đời những sản phẩm công nghệ cao mang tính đột phá: “Tôi tin rằng Apple là một công ty đầy tính sáng tạo, nó nằm trong bộ gen của doanh nghiệp”. Chiến lược đã xong, giờ chiến thuật là gì? Steve Jobs thay đổi hãng tư vấn marketing, mời lại Chiat Day, hãng đã giúp ông tung ra quảng cáo máy tính McIntosh năm 1984.

Sau đó, Steve Jobs phát biểu trước nhóm phát triển sản phẩm: “Đối với tôi, marketing là chuyển tải những giá trị thương hiệu đến cho người tiêu dùng. Để đưa hình ảnh Apple là một công ty giàu tính sáng tạo vào tâm trí người tiêu dùng, ta cần gắn Apple với những nhân vật sáng tạo, những hình tượng sáng tạo”.

Kết quả là sự ra đời của clip quảng cáo huyền thoại tạo thành slogan “Nghĩ khác” (Think diffirent) với đoạn lời thoại tuyệt vời “Here to the crazy one” (Gửi những kẻ điên) gắn chặt hình ảnh Apple với những danh nhân thế giới: Pablo Picasso, Albert Einstein, Luther King, John Lennon v.v...


Hướng đi của Apple đã thay đổi hoàn toàn. Sau đó, hàng loạt sản phẩm đột phá: iPod, iPhone, iPad, cuỗi cửa hàng bán lẻ Apple Store, trang nhạc số iTunes ra đời, biến Apple thành một biểu tượng của sự sáng tạo đột phá và đưa Apple trở thành thương hiệu mạnh nhất toàn cầu.

Đó là cách xử lý của một CEO huyền thoại. Đưa công ty về đúng quỹ đạo chiến lược với những chiến thuật marketing cực kỳ sáng tạo. Tuy nhiên, không phải công ty nào cũng may mắn có được những cá tính như Steve Jobs.

Kevin Roberts, CEO của hãng tư vấn Saachi & Saatchi đã phát biểu trong năm 2012: “Chúng ta sống trong một thế giới mà doanh nghiệp tung tiền vào những chiến dịch marketing trước mắt. Chiến lược dường như đã chết”. Al Ries, tác giả của hàng loạt best seller về marketing cũng thừa nhận: “Tôi tham gia nhiều cuộc họp của các ban giám đốc công ty và chiến lược marketing hiếm khi được đề cập đến hoặc chỉ là những ý kiến rơi rớt sau cùng”.

Nói cách khác, dù là một công cụ rất mạnh nhưng chúng ta không thể đặt marketing online trước marketing chiến lược. Ngược lại, khi doanh nghiệp có vấn đề, câu hỏi luôn phải là: “Chiến lược của chúng ta có vấn đề gì chăng? Chúng ta cần chiến thuật gì để thực thi chiến lược đúng đắn?”. Doanh nghiệp ngày nay cần phải dung hòa giữa chiến lược và chiến thuật.

Hình tượng hơn, doanh nghiệp cũng như một con thuyền, cần phải có những mái chèo đẩy sóng cho thuyền tiến lên. Nhưng cần hơn hết là con thuyền phải có la bàn để giúp doanh nghiệp đi đến đúng nơi cần thiết. Marketing online là một trong những mái chèo tạo nên lực đẩy cho doanh nghiệp. Marketing chiến lược là chiếc la bàn giúp doanh nghiệp đạt đến bến bờ mình mong muốn.

Theo Hoàng Tùng (DNSG)
Brand - Brand Name - Positioning[Tư vấn thương hiệuMột hệ thống nhận diện thương hiệu hiệu quả là yếu tố đầu tiên và cũng là tiên quyết để tạo dựng một hình ảnh thương hiệu mạnh. Câu định vị thương hiệu (slogan) là một công cụ rất quan trọng trong hệ thống nhận diện thương hiệu để giúp thương hiệu “tỏ tình” hiệu quả với người tiêu dùng.

Từ ngàn xưa, bật triết gia Khổng tử có câu “Một hình ảnh đáng giá một ngàn lời nói”

Tuy nhiên, khoa học ngày nay đã có nghiên cứu tỷ mỷ và có quan điểm ngược lại. Herbert Simon, người đã đoạt giải Nobel trong lĩnh vực nghiên cứu về trí nhớ con người cho rằng “Ngay cả khi bạn đọc, để có thể giữ điều đó trong bộ nhớ ngắn hạn, bạn đã dịch chuyển nó, ghi âm lại dưới dạng âm thanh”.

Nike vs Maxwell House

Nike đã nhận được không biết bao nhiêu lời tán dương cho mẫu logo cùng khẩu hiệu Just do it (Cứ hành động đi) của mình. Câu định vị thương hiệu của Nike có thực sự là yếu tố duy nhất khiến thương hiệu này trở thành một trong những thương hiệu được biết đến nhiều nhất trên thế giới?

Đã từ lâu, Nike nổi tiếng với những chiến dịch marketing tốn kém với sự góp mặt của các vận động viên nổi tiếng nhất thế giới (Michael Jordan – vận động viên bóng rổ của Mỹ là một thành công điển hình). Theo tờ New York Times thì Nike đã bỏ ra 678 triệu USD cho quảng cáo năm 2006 chỉ riêng tại thị trường Mỹ. Dĩ nhiên những thương hiệu toàn cầu như Nike khi có sự hậu thuẫn từ ngân sách marketing khổng lồ, họ có thể dễ dàng gõ cửa từng người tiêu dùng khắp mọi ngõ ngách trên khắp thế giới. Với hệ thống phân phối rộng khắp và ngân sách quảng cáo khổng lồ không có gì lạ khi Nike đã ghi ấn sâu đậm trong tâm trí người tiêu dùng.

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu khẩu hiệu “Just do it” kia không thuộc về Nike? có thể giờ đây “Just do it” không được ngợi ca và phổ biến như nó đã từng có.

Khi những thương hiệu vừa và nhỏ không có nhiều ngân sách cho hoạt động marketing, một Slogan hay là con đường ngắn nhất để mọi ngưới chú ý đến bạn.

Rất nhiều người biết đến slogan “Good to the last drop” (Thơm ngon đến giọt cuối cùng) của thương hiệu cà phê Maxwell House. Xuất xứ của câu slogan này bắt nguồn từ một câu chuyện rất tình cờ. Franklin Roosevelt, cựu tổng thống Mỹ, vốn rất thích uống cà phê. Trong một dịp ghé qua hội chợ vùng Mashville, Tennessee, ông được mời một ly cà phê nóng hổi của Maxwell House. Vị ngon của nó đã khiến ngài tổng thống không thể nén nổi cảm xúc mà thốt lên rằng: “Good to the last drop!”. Về sau, câu nói này được Maxwell House sử dụng làm slogan và có lẽ, câu slogan này còn nổi tiếng hơn rất nhiều so với bản thân tên thương hiệu.

Slogan: ngắn không phải bao giờ cũng ưu thế

Đa số ý kiến đều nghĩ rằng một slogan ngắn bao giờ cũng có nhiều lợi thế hơn dài.Dĩ nhiên ngắn bao giờ cũng dễ nhớ ngay lúc đọc. Nhưng một slogan ngắn không có nghĩa là là được nhớ lâu, và quan trọng hơn, nó không đảm bảo là sẽ được yêu thích.

Ai cũng biết và rất yêu thích câu slogan “Vị ngon trên từng ngón tay” của thương hiệu đồ ăn nhanh KFC. Sau gần 50 năm sử dụng, năm 2011 nó đã được đổi thành “So good” (“Thật tốt”?). Cho dù có KFC có lý giải ý nghĩa gì đi chăng nữa, câu slogan mới của họ thật khó đi vào lòng người bằng câu cũ. Cho dù “Thật tốt” rất ngắn, ngắn hơn rất nhiều so với “Vị ngon trên đầu ngón tay”.

Bạn nghĩ sao về câu slogan của City Bank “City never sleeps” (“Thành phố không bao giờ ngủ”). Nó đâu có ngắn lắm đâu (nhất là phiên bản tiếng Việt), đúng không nào? Nhưng theo tôi đây là một trong những câu slogan tuyệt nhất. Cả về ý nghĩa lẫn ngôn ngữ thể hiện: “The City” là cách chơi chữ độc đáo (trùng tên thương hiệu “City Bank”). “never sleep” hàm ý dịch vụ của City Bank luôn sẵn sàng phục vụ khách hàng 24/24h. Thật tuyệt.

Khi người ta hỏi tổng thống Mỹ Abraham Lincoln chiều dài của đôi chân phải là bao nhiêu là phù hợp với cơ thể con người, ông đã trả lời: “Nó phải đủ dài để chạm đến nền đất”.

Một slogan hiệu quả không nằm ở vấn đề ngắn hay dài. Quan trọng là nó phải thể hiện một thông điệp có ý nghĩa như thế nào với người nghe.

Slogan là công cụ thể hiện khác biệt hóa thương hiệu

Một slogan hiệu quả không nằm ở vấn đề ngắn hay dài. Quan trọng là nó phải thể hiện một thông điệp có ý nghĩa như thế nào với người nghe.

Khi đã tìm ra điểm khác biệt hóa thương hiệu của mình, slogan là công cụ hiệu quả nhất để nói điều đó với khách hàng.

Xe Mercedes-Benz có ưu uy tín hơn đối thủ về uy tín sản phẩm và họ đã có câu “”Engineered like no other car in the world.”

Nói đến Volvo, mọi người đều nghĩ đến đó là loại xe có độ an toàn cao. Câu slogan của Volvo nói rất rõ lợi ích này: “Vì cuộc sống của bạn” (“For life”)

Ở Canada, kênh truyền hình Naked News (sự thật trần trụi) rất phổ biến. Điểm mạnh của kênh này là luôn đưa tin trung thực và khai thác triệt để đến cùng các nguồn tin mà họ có được. Câu slogan “Không có gì phải dấu” kết hợp cùng tên thương hiệu “Sự thật trần trụi” quả thật đã lột tả rất thành công điểm khác biệt thương hiệu này.

Slogan cần nhấn mạnh lợi ích thương hiệu

* “Nơi những người giỏi nhất vẫn có thể trở nên giỏi hơn/Where the best become better” – Trung tâm Anh ngữ Apollo

* “Học ở đây. Graduate anywhere” – Language Link

* “Vị ngon trên từng ngón tay” – KFC

* “Thành phố không bao giờ ngủ/City never sleeps” – City Bank

* “Duy nhất đậu nành. Riêng dành cho bạn” – VinaSoy

* “Biti’s – Nâng niu bàn chân Việt” – Biti’s

* “Chỉ tan trong miệng, không tan trên tay” – M&M

Có một điều rất đúng là khách hàng thường bị thu hút bởi lợi ích thương hiệu. Mặt khác, mối quan tâm đến lợi ích lại có khả năng bị chi phối bởi những đặc điểm riêng biệt của sản phẩm khách hàng chọn mua. Đặc điểm độc đáo của kẹo M&M (lớp vỏ cứng bên ngoài giữ cho nhân sôcôla bên trong không bị chảy khi cầm trong tay) cũng có giá trị tuơng đương với lợi ích mà khách hàng thu được.


Câu chuyện về trung tâm đào tạo tiếng Anh Apollo có thể là một ví dụ minh hoạ tương đối hay. Câu định vị thương hiệu Apollo “Where the best becomes better” (Nơi những người giỏi nhất vẫn có thể giỏi hơn) rất phổ biến với các bạn sinh viên cũng như học sinh trung học, kể cả những người không học tại Apollo. Thú vị hơn cả, rất nhiều người nghe thấy và yêu thích câu định vị này trước cả khi họ biết đến cái tên Apollo.

Khách sạn The Hay-Adams, một khách sạn sang trọng và mang đậm dấu ấn lịch sử tại Washington D.C, đã biến vị trí tọa lạc đối diện Nhà Trắng đặc thù của khách sạn trở thành thuộc tính độc đáo qua slogan “Where nothing is overlooked but the White House“ (tạm dịch: Nơi bạn không thấy bất cứ thứ gì ngoài Nhà Trắng). Cho đến hôm nay câu định vị này vẫn tiếp tục thể hiện được điểm khác biệt thương hiệu của The Hay-Adams.

Khi slogan được sáng tạo với vần điệu dễ nhớ, chúng hoàn toàn có thể tác động lên cảm xúc của khách hàng. Chúng ta thấy rằng rất nhiều câu slogan rất ấn tượng ở trên hoàn toàn không hề ngắn, thậm chí có một số câu còn rất dài.

Trong một bài viết của mình trên tạp chí Advertising Age, cha đẻ của định vị thương hiệu Al Ries cho rằng: một slogan cần “đủ dài” để kết nối cảm xúc với khách hàng.

Nguồn: Nguyễn Đức Sơn (VietnamMarcom)
[Tổ chức sự kiện] Bốn nhân tố chính giúp doanh nghiệp tạo ra những câu chuyện đặc sắc, chân thành có thể lôi kéo được khách hàng tiềm năng đến với mình.

Gắn kết chân tình và xây dựng mối quan hệ. Một câu chuyện đáng nhớ thường được sẻ chia giữa bạn bè hoặc các thành viên trong gia đình, những người mà ai cũng cảm thấy thoải mái và gần gũi để bày tỏ. Điều tương tự cũng xảy ra khi một doanh nghiệp xây dựng mối quan hệ với người tiêu dùng. Uy tín, trung thực và sự chân thành là những yếu tố rất cần thiết để tạo nên và nuôi dưỡng mối quan hệ lành mạnh, bền vững với khách hàng. Sẽ không gì tuyệt vời hơn nếu khách hàng tin tưởng doanh nghiệp đủ để họ an tâm thổ lộ những hy vọng, bí mật và nhu cầu của mình.

Lên kế hoạch thật chi tiết và khám phá từ nhiều góc cạnh khác nhau. Khi khắc họa nên một câu chuyện kể với khách hàng, doanh nghiệp phải lên kế hoạch từ sớm và tìm hiểu kỹ những thách thức có thể gặp. Có những bước đi phù hợp để khuyến khích khách hàng thể hiện bản thân và đưa ra cảm nhận về thương hiệu của doanh nghiệp mà có thể họ chẳng bao giờ chủ động nói ra với các nhãn hiệu tương tự khác.

Thí dụ, thay vì hỏi ý kiến khách hàng về một sản phẩm kẹo ngọt mới, hãy thử đề nghị họ tưởng tượng đến một thanh kẹo ngọt lý tưởng nhất. Hay kêu gọi các bậc phụ huynh sử dụng điện thoại ghi hình lại cách phản ứng của con em mình khi chọn lựa kẹo trong cửa hàng. Sử dụng nhiều hình thức đa dạng, sáng tạo khác nhau để xây dựng nên một câu chuyện có thể bộc lộ được những ý tưởng mới, những nhu cầu chưa đạt được và trên hết là tạo cơ hội mới cho doanh nghiệp.

Sử dụng trực giác để tìm ra câu chuyện thật sự đáng kể và đáng quan tâm với khách hàng. Một khi đã vượt qua giai đoạn thu thập thông tin và gia tăng mức độ hiểu biết trọn vẹn về nhóm khách hàng mục tiêu, đã đến lúc tiến hành quá trình “chưng cất”. Việc làm này chỉ có thể được thực hiện thông qua khả năng phán đoán và suy luận.

Doanh nghiệp có thể tìm kiếm câu chuyện hoặc bằng cách diễn dịch, đưa ra những chủ đề hay xu hướng mới từ thông tin có được, hoặc theo cách quy nạp, nghĩa là kiểm tra lại tất cả những thông tin để kết luận liệu giả thiết ban đầu đưa ra có hợp lý hay không. Một khi đã xác định được đâu là câu chuyện thật sự phù hợp với hoạt động doanh nghiệp, hãy tìm cách đưa câu chuyện trở thành một phần trong chiến lược kinh doanh của tổ chức.

Chẳng hạn, Công ty Truyền thông EE (Everything Everywhere) của Anh luôn nghĩ rằng khách hàng rất yêu quý chiếc điện thoại di động của mình. Nhưng sau khi lắng nghe khách hàng chia sẻ về những câu chuyện cá nhân khi họ làm mất, để quên hay rơi hỏng chiếc điện thoại, EE mới biết rằng khách hàng chỉ quan tâm đến những gì bên trong chiếc điện thoại – hình ảnh, video clip, danh bạ và cả tin nhắn trao đổi với bạn bè.

Ngay sau đó, EE đã tung ra dịch vụ Clone Phone mang đến giải pháp dự phòng, sao lưu thông tin và thậm chí cam kết thay đổi chiếc điện thoại bị mất hay hỏng trong vòng 24 giờ. Dịch vụ mới Clone Phone đã thành công ngay lập tức với hơn 250.000 đăng ký thuê bao chỉ trong vòng sáu tháng đầu tiên.

Khơi gợi cảm xúc để tạo nguồn cảm hứng cho hành động. Một câu chuyện kể không chỉ được lắng nghe, mà còn phải được cảm nhận và ghi nhớ. Bản chất tâm lý của con người là thích chia sẻ sự thấu hiểu của mình về những câu chuyện. Trong bối cảnh doanh nghiệp, một câu chuyện có thể được truyền bá theo những định dạng khác nhau, tùy theo mức độ phức tạp và nội dung câu chuyện, nhưng mục đích của chúng đều phải tương tự nhau: khơi dậy cảm xúc và kết nối với công chúng trên mức độ nhân sinh quan.

Một khi được hiểu thấu và cảm nhận, những câu chuyện ấy sẽ lan tỏa đến toàn bộ tổ chức và khiến cho từ giám đốc đến nhân viên đều quyết tâm hành động, tiến về phía trước, phục vụ tốt hơn cho khách hàng, tiếp tục truyền đi và khơi nguồn cảm hứng cho khách hàng…

Theo Hà Lam (DNSGCT/INC)
business plan[Thương hiệu]  Khi mới bắt đầu khởi nghiệp, việc xác định mục tiêu và hướng đi rõ ràng là điều tối quan trọng. Cách tốt nhất để làm việc này là viết một bản kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh.

Tại sao công việc đầu tiên phải làm là viết bản kế hoạch kinh doanh?
  1. Định hình được những việc cần phải làm để hoàn thành công việc kinh doanh
  2. Miêu tả một cách chi tiết cách thức tiến hành những việc cần làm trên
  3. Nhận diện điều gì làm nên điểm khác biệt, độc đáo trong việc kinh doanh của bạn
  4. Thành lập hội đồng lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp
  5. Nhận biết rõ kích thước thị trường kinh doanh
  6. Xác định rõ thị trường khách hàng mục tiêu
  7. Lên ý tưởng những chiến dịch tiếp thị
  8. Phân rõ các nguồn thu
  9. Dự tính chi phí toàn bộ cho việc khởi nghiệp

Thống kế dân số thế giới


S.T Nhà tư vấn thương hiệu
theo Phong Linh (Trí thức trẻ/Entrepreneur)
Xu huong marketing nam 2014[Thương HiệuĐể tiếp cận khách hàng hiệu quả trong năm 2014, doanh nghiệp nên tiếp thị theo những hình thức nào, sử dụng những kênh truyền thông nào?


Theo Janet Attard, sáng lập trang web BusinessKnowHow, tác giả của cuốn Business Know-How: An Operational Guide For Home-Based and Micro-Sized Businesses (tạm dịch: Cẩm nang dành cho các doanh nghiệp gia đình và các doanh nghiệp siêu nhỏ có ngân sách hạn chế), doanh nghiệp nên đi theo ba xu hướng tiếp thị chính sau đây:


Theo Attard, xu hướng này thật ra là một mối lo cho các doanh nghiệp nhỏ. Cho dù doanh nghiệp là một công ty nhỏ mang tính địa phương hay là một công ty lớn hoạt động trên phạm vi toàn cầu thì ngày nay đa số khách hàng đều có khuynh hướng tìm đến doanh nghiệp chủ yếu qua sự giới thiệu của bạn bè, người thâncác cộng đồng trực tuyến. Công nghệ đã trang bị cho khách hàng nhiều công cụ hơn để tìm kiếm thông tinmua những sản phẩm và dịch vụ mà họ có nhu cầu.

Theo một cuộc khảo sát mang tên Pew Internet & American Life Study được thực hiện vào tháng 10-2013, có 35% người Mỹở độ tuổi từ 16 trở lên hiện đang sở hữu một chiếc máy tính bảng. Tỷ lệ này đối với các hộ gia đình có tổng thu nhập bình quân hằng năm trên 75.000 USD là 50%. Cũng theo một báo cáo khác do Pew Internet công bố vào tháng 9-2013, 63% những người sở hữu điện thoại di động hiện đang sử dụng thiết bị này để truy cập internet.

Điều quan trọng hơn là những khách hàng này kết nối với những thông tin gì? Bên cạnh các tin tức thời sự, thời tiết, các đoạn phim video, khách hàng nay thường sử dụng các thiết bị di động để thu thập thông tin về các sản phẩm và dịch vụ mà họ quan tâm cũng như các công ty bán những sản phẩm và dịch vụ này trước khi nói chuyện với người bán hàng hay mua hàng.

FacebookGoogle là những trang web đứng đầu được khách hàng sử dụng để tìm kiếm những thông tin nói trên. Nếu khách hàng không tìm thấy những thông tin mà họ cần từ điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tính để bàn hay nếu họ cảm thấy những hình ảnh, thông tin mà họ tìm được có vẻ lỗi thời, không chuyên nghiệp, họ sẽ chuyển sang mua hàng ở những công ty khác.


Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ phải tiếp cận khách hàng hiện tại và khách hàng triển vọng vào nhiều thời điểm khác nhau và bằng nhiều cách khác nhau trong suốt quá trình mua hàng của họ. Một số nghiên cứu tiếp thị đã từng đưa ra kết luận rằng, một khách hàng cần phải nghe nói đến doanh nghiệp ít nhất là bảy lần trước khi họ bị thuyết phục mua hàng từ doanh nghiệp. Vấn đề của doanh nghiệp hiện nay là làm thế nào để khách hàng có thể dễ dàng tìm thấy mình qua các thiết bị di động và các kênh truyền thông mà họ đang sử dụng.

Chẳng hạn, một khách hàng công ty muốn tìm mua một hệ thống chuông báo động cho công ty của mình có thể lên các trang web tìm kiếm thông tin từ máy tính ở văn phòng để tìm các thông tin định hướng cho việc mua hàng này. Việc tìm kiếm thông tin như thế có thể sẽ cho ra nhiều đường dẫn đến các trang web của một số công ty đang bán hệ thống chuông báo động, hình ảnh của các hệ thống này và các bài nhận xét liên quan. Khách hàng này cũng có thể tìm thông tin về sản phẩm trên eBay.

Trước giờ ăn trưa, khách hàng sẽ nhận được một mẩu tin nhắn về một chương trình bữa trưa khuyến mãi đặc biệt từ một cửa hàng thức ăn nhanh gần công ty. Anh ta sẽ đặt bữa trưa này qua điện thoại, sau đó đến nhận và rồi bận rộn với những công việc khác. Một vài ngày sau, anh ta lại tìm thông tin về các hệ thống chuông báo động, nhưng từ máy tính bảng của mình. Sau đó, anh ta muốn tìm hiểu về cách lắp đặt các hệ thống này và tìm các đoạn phim video liên quan trên YouTube.

Sau đó, khách hàng nói trên có dịp tham dự một cuộc hội chợ triển lãm về ngành xây dựng, xem một số tài liệu tiếp thị từ một công ty bán hệ thống chuông báo động. Nhưng khách hàng không để lại số điện thoại liên lạc của mình cho công ty ấy. Thay vào đó, nếu nhớ được tên của công ty này, anh ta sẽ chủ động lên internet tìm hiểu thông tin về công ty và sản phẩm của nó khi về lại văn phòng của mình.

Để tiếp thị hiệu quả cho những khách hàng như trên, doanh nghiệp nay phải sử dụng nhiều phương thức tiếp thị khác nhau để tiếp cận và tương tác với họ ở nhiều điểm khác nhau trong quy trình mua hàng của họ. Tùy theo mặt hàng mà doanh nghiệp đang bán, bên cạnh hình thức quảng cáo truyền miệngkhách hàng giới thiệu khách hàng, doanh nghiệp cần sử dụng nhiều hình thức tiếp thị khác, từ quảng cáo truyền thống, “pay-per-click” (quảng cáo trả tiền cho mỗi lần khách hàng nhấp chuột vào đường dẫn quảng cáo), các bài viết chia sẻ kinh nghiệm trên các trang web, các bài nhận xét về sản phẩm của những khách hàng hài lòng trên các mạng xã hội, đến các tài liệu, đoạn phim video hướng dẫn sử dụng sản phẩm trên YouTube và SlideShare.

Để chọn kênh truyền thông thích hợp nhất, giúp doanh nghiệp tiếp cận tốt nhất với khách hàng triển vọng của mình, doanh nghiệp nên dùng các thiết bị khác nhau, từ máy tính để bàn, điện thoại thông minh, đến máy tính bảng để truy cập vào internet, tìm hiểu xem các công ty đang bán cùng loại sản phẩm hay dịch vụ đang tiếp thị sản phẩm của họ như thế nào. Sau đó, ghi nhận lại những loại thông tin (như bí quyết mua hàng, mô tả sản phẩm, phim video hướng dẫn sử dụng sản phẩm…) xuất hiện nhiều nhất từ các kết quả tìm kiếm. Từ những kết quả ấy, doanh nghiệp có thể rút ra những kinh nghiệm, cách làm thích hợp nhất cho công ty của mình.


Đó là cách tiếp thị khiến cho khách hàng nhớ đến doanh nghiệp nhiều nhất. Mục tiêu này sẽ ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh “những khách hàng kết nối” luôn bị quá tải bởi các thông tin tiếp thị và quảng cáo. Khách hàng có thể muốn liên hệ lại với doanh nghiệp một vài ngày sau khi tìm thấy thông tin về doanh nghiệp và một số công ty đối thủ cạnh tranh khác trên internet. Nhưng nếu họ không thể nhớ tên của doanh nghiệp thì khả năng họ kết nối lại với doanh nghiệp sẽ rất thấp. Bản chất của “adhesive marketing” là làm thế nào để tên hay hình ảnh của doanh nghiệp luôn nằm trong tâm trí của khách hàng triển vọng và tạo ra những mối liên hệ gắn kết khiến họ mua hàng thường xuyên của doanh nghiệp.

Học Marketing - Gặp người Việt Nam sang du lịch ở Mỹ, bà con Việt kiều hay rủ đi mua sắm ở Walmart. Theo người tiêu dùng ở Mỹ, Walmart là hệ thống siêu thị “luôn có giá rẻ”, dễ mua nên luôn có đông người mua sắm nhất. Song, dạo quanh Walmart ở nhiều bang tại Mỹ, thấy hàng Việt Nam hiếm quá. Khi chúng tôi thông tin Walmart đang xúc tiến tìm nguồn hàng ở Việt Nam, nhiều người tiêu dùng ở Mỹ chia sẻ khả năng thâm nhập của hàng Việt Nam.

Anh Brian Monila, một kỹ sư phần mềm ở McKenny (Texas) rất mừng khi tôi tặng hộp càphê Legendee của Trung Nguyên. Anh nói anh ghiền càphê Trung Nguyên đã 5 – 6 năm, hay uống loại “số 5” ở các chợ Việt Nam. Cách nay sáu tháng, vợ anh từ Việt Nam về có mua tặng anh hộp càphê Legendee mà chị được giới thiệu là “dành cho người sành uống càphê”. Anh dùng thử, thấy ngon thật và mỗi lần pha, anh không dám cho nhiều càphê vì sợ hết.

Có dấu ấn Việt Nam trong người tiêu dùng Mỹ

Brian Monila tự tay chế biến cá, thịt hun khói, khi ăn, anh mang ra chai tương ớt Huy Fong. Tương ớt Huy Fong tuy sản xuất ở Mỹ nhưng do một người Việt Nam làm. Anh bảo tương ớt và nước mắm là hai loại gia vị của Việt Nam mà lúc nào trong nhà anh cũng có, vì nhiều món dù ăn theo Tây nhưng có thêm chút tương ớt hay nước mắm thì hương vị thơm ngon hơn.

Hẹn chúng tôi ăn trưa ở quán phở Cường (Oklahoma), ông D. Keith tâm sự ông rất thích phở, chả giò và trái cây Việt Nam. Ông có gia đình người bạn thân ở Biên Hoà, mỗi lần ông sang Việt Nam là họ đãi ăn nhiều loại trái cây ngon. Riêng ở Biên Hoà, ông nhớ loại bưởi Tân Triều nổi tiếng. Ông bảo bưởi trong các siêu thị ở Oklahoma bán chẳng thể nào sánh với bưởi Việt Nam, nên ông không bao giờ mua. Ông rất thích dùng quế để làm gia vị cho một số món ăn, nhưng phải đúng quế của Việt Nam mà tìm không thấy ở siêu thị tại Mỹ.

Ông John Nga sống ở Long Island (New York) – nơi có rất ít người Việt Nam – cũng nhìn nhận trước đây các siêu thị ở Mỹ bán rau không đáng kể nhưng dường như thói quen ăn rau nhiều của người Việt Nam đã ảnh hưởng đến tiêu dùng ở Mỹ. Trong các siêu thị đã bán nhiều loại rau, nấm, thậm chí siêu thị có ít người Việt Nam mua sắm cũng có rau lang, rau dền. Ở các nơi bán đồ làm vườn giờ luôn có những chậu rau húng lủi, rau quế, ớt hiểm... cho người ta mang về nhà trồng. Hạt điều, hạt sen sấy, mít sấy, xoài sấy của Việt Nam mang sang, không chỉ người Việt mà người Mỹ chính gốc hay gốc Âu, gốc Phi đều thích, khen ngon, nhưng muốn ăn nữa chắc phải gửi mua từ Việt Nam.

Hàng Việt Nam không thiếu ở Mỹ, nhưng hiếm ở Walmart

Sang định cư ở Houston (Texas), gia đình anh Đoàn Hùng vẫn giữ thói quen ăn uống như ở Việt Nam bởi thực phẩm Việt Nam không thiếu thứ gì trong các chợ do người Việt hay người Hoa làm chủ ở Houston. Ông D. Keith là người Mỹ cũng nói khi thích những món Việt Nam, ông thường tìm ở các siêu thị của người Việt. Điều mà những người Việt Nam cũng như người tiêu dùng khác đang sinh sống tại Mỹ lấy làm tiếc là hàng Việt Nam quá hiếm hoi trong các đại siêu thị ở Mỹ.

Chúng tôi vào những chợ như Cao Nguyên ở Oklahoma; Nha Trang, Biên Hoà ở Virginia. Người Việt gọi là chợ nhưng hình thức trưng bày như siêu thị, bảng hiệu thường có từ “market” theo tên siêu thị, bán phần lớn là thực phẩm từ tươi sống đến hàng chế biến, một số hàng tiêu dùng. Ở những nơi này, 70% hàng hoá là hàng Việt Nam hoặc ghi nhãn bằng tiếng Việt.

Nói riêng về hàng thực phẩm chế biến công nghiệp có hàng sản xuất từ Việt Nam xuất sang như càphê Trung Nguyên, Vinacafé; bún tươi của công ty Lucky Sing ở Bến Lức – Long An; bánh hỏi, bánh tráng Mỹ Tho của Thuận Phong – Tiền Giang; bánh tráng May của Trương Hiệp Thạnh ở Bến Lức; miến đậu xanh của công ty cổ phần Bích Chi; miến Vifon; nước tương con mèo đen Nam Dương; nước màu Bến Tre, mắm ruốc chà, mắm cá lóc của Thăng Nguyên; bột làm bánh của Vĩnh Thuận và Mikko; trà thảo mộc Hùng Phát... Có hàng cho người Việt Nam nhưng sản xuất ở Mỹ như bún bò Huế, bánh tráng ba cô gái của Vĩnh Sanh, nước mắm Phú Quốc của Việt Hương, tương ớt Huy Fong, sữa Ông Thọ; nước súp bún riêu, nước súp bò, nước phở… chữ Việt nhưng sản xuất Thái Lan, đóng gói ở Washington D.C…

Sang siêu thị Walmart, chúng tôi thấy hàng Việt Nam hầu như chỉ có hàng may mặc, kế đến là thuỷ sản, nhưng chỉ là “made in Việt Nam” chứ không có nhãn hàng chính thức của Việt Nam, quá ít ỏi trong hàng chục ngàn mặt hàng của Walmart. Nhiều người Việt Nam sinh sống ở Mỹ khi mua quần áo đã sẵn sàng ủng hộ hàng “made in Việt Nam” cho dù nó được bán dưới nhãn hiệu nào.

Hàng Việt vào Walmart: chú ý sức chịu về giá

Theo những người tiêu dùng tại Mỹ, do nhu cầu của người Việt Nam và sự thay đổi khẩu vị của người Mỹ gốc Á, Âu, Phi (với số lượng cư dân ngày càng tăng ở Mỹ) có xu hướng thích món ăn Việt Nam nên những siêu thị do người Việt hay người Hoa làm chủ nhập khẩu ngày càng nhiều loại thực phẩm Việt Nam. Sự phát triển du lịch, nhiều người Mỹ sang Việt Nam cũng tìm thấy nhiều hàng may mặc, thủ công mỹ nghệ, đồ dùng trong nhà mà họ thích do giá rẻ, đẹp nên có dành cảm tình với hàng Việt Nam. Walmart không thể bỏ qua thị phần lớn từ những người Mỹ gốc Á, Âu, Phi mang lại, nên họ tìm kiếm nguồn hàng ở Việt Nam là điều tất yếu.

Không biết tiêu chuẩn chọn lựa của Walmart đối với hàng Việt Nam sẽ như thế nào, nhưng người tiêu dùng tại Mỹ cho rằng với hơn 4.000 cửa hàng tại Mỹ và hơn 3.000 cửa hàng ở 16 quốc gia khác, mang về cho Walmart doanh thu trên 400 tỉ USD mỗi năm, thì đưa được hàng vào hệ thống này, doanh nghiệp sẽ có lượng tiêu thụ lớn. Tuy nhiên, phương châm kinh doanh của Walmart là “luôn có giá rẻ” cho người thu nhập trung bình, nên điều quan trọng là làm sao có giá rẻ mà chất lượng tốt để hàng Việt Nam được chọn trong sự cạnh tranh gay gắt với hàng từ các nước sản xuất khác, đang và sẽ cung cấp cho Walmart. Mặt khác, có thể hàng Việt Nam sẽ phải chấp nhận chỉ xuất hiện “made in Việt Nam” dưới tên nhãn hàng khác.

Một điều khác mà người tiêu dùng tại Mỹ nhận xét là ít khi họ thấy hàng hoá trong Walmart tăng giá, nên doanh nghiệp Việt Nam cần chú ý chiến lược về giá ổn định lâu dài, đừng mong cơ hội tăng giá bán khi hàng được tiêu thụ nhiều.

Theo nhiều người tiêu dùng, doanh nghiệp Việt Nam sản xuất rau quả nhiệt đới nếu có quy trình sản xuất tốt nên mạnh dạn tiếp xúc với Walmart, vì nhu cầu này ở Mỹ rất cao mà hiện có nhiều thứ Walmart chưa đáp ứng được hoặc có thì giá gấp nhiều lần giá bán tại Việt Nam mà hương vị không bằng.

Theo Các Ngọc- SGTT
[Tư vấn MarketingKhởi nghiệp đang là trào lưu và rất nhiều người muốn theo đuổi con đường này. Tuy nhiên trước tình hình kinh tế suy thoái và rơi vào tình cảnh tồi tệ, không ít người lưỡng lự. Vậy bây giờ có phải là thời điểm tốt để khởi nghiệp hay không? Hãy lắng nghe ý kiến của Paul Graham, một trong những người có ảnh hưởng nhất cộng đồng startup tại Mỹ.


Đây là bài essay của Paul Graham, người sáng lập Y-Combinator, vườn ươm khởi nghiệp thành công và nổi tiếng nhất nước Mỹ.

Nhiều chuyên gia sợ rằng nền kinh tế không mấy sáng sủa hiện nay không khác gì những năm 75 thế kỉ trước…

Nhưng đấy cũng là thời điểm Microsoft và Apple được thành lập.

Điều đó gợi ý rằng lúc kinh tế suy thoái chưa hẳn là không tốt để bạn khởi nghiệp. Tôi cũng không cho rằng đó là thời điểm tốt. Sự thật còn rõ ràng hơn: Tình hình kinh tế thực ra không ảnh hưởng gì nhiều.

Có một điều chúng tôi rút ra được sau khi đầu tư vào hàng đống các công ty khởi nghiệp (startup) đó là:

"Phẩm chất của người sáng lập mới ảnh hưởng đến sự thành bại. Tình hình kinh tế cũng có ảnh hưởng, nhưng chả là gì so với vai trò của người sáng lập."

Điều đó có nghĩa rằng vấn đề ở đây là bạn là gì chứ không phải bạn khởi nghiệp khi nào. Nếu bạn giỏi, bạn sẽ thành công ngay cả khi kinh tế xấu. Ngược lại, nếu bạn kém thì nền kinh tế dù có tốt cũng chẳng cứu được bạn. Nếu cứ nghĩ rằng “Không nên bắt đầu kinh doanh khi kinh tế đang xấu” thì cũng dở chả khác gì cho rằng “Cứ đơn giản mở một công ty là sẽ giàu” khi thị trường có dấu hiệu bong bóng.

Vậy nếu muốn tăng cơ hội cho mình, bạn nên quan tâm đến việc tìm người đồng sáng lập nhiều hơn là tình trạng của nền kinh tế. Và những nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của công ty sẽ không nằm ở các bản tin, mà ở trong tấm gương, khi bạn nhìn vào chính bản thân mình.

Nhưng với những người đang muốn khởi nghiệp, có đáng để chờ cho đến khi kinh tế sáng sủa hơn? Có thể đáng để chờ nếu bạn định mở một nhà hàng, nhưng chả ích gì khi bạn làm công nghệ. Công nghệ phát triển nhanh hay chậm độc lập với thị trường chứng khoán. Vậy nên khi có ý tưởng, bắt tay vào làm ngay sẽ tốt hơn là ngồi chờ. Sản phẩm đầu tiên của Microsoft là trình thông dịch Basic cho máy Altair, và đó chính là thứ người ta cần khi đó vào năm 1975. Nếu Bill Gates và Allen hoãn đến năm sau thì có lẽ đã quá muộn.

Tất nhiên bạn còn nhiều ý tưởng khác nữa sau này. Luôn có những ý tưởng mới. Nhưng nếu bạn đang có một ý tưởng cụ thể, hãy tiến hành làm ngay.

Điều này cũng không có nghĩa rằng bạn có thể lờ đi tình hình kinh tế. Khi kinh tế khó khăn thì cả khách hàng lẫn nhà đầu tư đều ít tiền. Khi khách hàng không dư dả thì cũng không hẳn là vấn đề, thậm chí bạn còn có thể đắc lợi từ đó bằng cách bán các sản phẩm giá rẻ. Các công ty mới thường cạnh tranh bằng giá thấp, vì vậy ở khía cạnh này khi kinh tế khó khăn bạn sẽ có lợi hơn các công ty lớn.

Nhà đầu tư mới là vấn đề thực sự. Thường các startup cần phải có một khoản đầu tư bên ngoài, và khi kinh tế không tốt các nhà đầu tư cũng dè dặt hơn. Thực ra họ không nên như vậy. Ai cũng biết rằng ta nên mua khi tình trạng kinh tế xấu (giá rẻ) và nên bán khi kinh tế tốt. Nhưng, trong thị trường cổ phiếu, thời điểm tốt được định nghĩa là lúc mọi người đều nghĩ nên mua vào, mà thực tế thì không phải lúc nào cũng như vậy. Và đó là lý do tại sao chỉ có một số nhỏ những người đi ngược với đám đông mới có những quyết định đầu tư đúng đắn.

Thế nên, vào năm 1999, khi bong bóng dot-com bùng nổ, nhà đầu tư chen lấn nhau để mua vào cổ phiếu của một startup tồi, và hiện nay ta có thể đoán là họ sẽ lại dè dặt mua ngay cả những cổ phiếu của công ty tốt.

Bạn cần phải thích ứng với điều này. Thực ra cũng chả phải điều gì mới: các startup luôn phải thích ứng với sự đỏng đảnh của nhà đầu tư. Thử hỏi bất kì người sáng lập ở bất kì ngành nào xem nhà đầu tư của họ có hay õng ẹo không, và để ý đến thái độ của họ xem. Nay phải giải thích làm cách nào công ty của bạn sẽ phát triển, mai phải giải thích làm cách nào để chống chọi với suy thoái.

(Thật ra đấy cũng là việc tốt. Nhưng những sai lầm của nhà đầu tư không phải là cách họ phán xét mà họ luôn có xu hướng tập trung vào một vấn đề mà bỏ qua các vấn đề khác.)

Thật may, cách bạn làm startup cũng giống như cách bạn chống chọi với suy thoái: vận hành với chi phí thấp nhất có thể. Bao năm nay tôi vẫn luôn nói với các nhà sáng lập rằng con đường chắc chắn nhất đi đến thành công đó là trở thành “những con gián” trong một thế giới toàn các tập đoàn khổng lồ (biết khôn ngoan lựa chọn vị trí an toàn cho mình, dù vị trí đó không được hào nhoáng cho lắm). Khi hết tiền, một startup sẽ chết ngay lập tức. Vì vậy chi phí hoạt động càng thấp thì bạn càng khó chết. Và cũng thật may mắn chi phí hoạt động cho một startup thường thấp. Dù một đợt suy thoái thế nào xẩy ra thì nó vẫn cứ rẻ.

Nếu thảm họa hạt nhân có xẩy ra thì thà làm “con gián” còn hơn giữ việc làm ở các công ty lớn. Khách hàng sẽ ra đi lần lượt khi họ không còn đủ tiền trả cho bạn, nên bạn sẽ không bất ngờ mất hết khách. Thị trường không đối xử với bạn như cách các công ty “sa thải nhân sự”.

Giả sử nếu bạn đã bỏ việc, startup của bạn thất bại và bạn không tìm được việc làm khác thì sao? Sẽ là vấn đề nếu bạn làm việc trong mảng sale và marketing, vì sẽ cần hàng tháng trời để tìm việc mới khi kinh tế khó khăn. Nhưng các hacker (những người đam mê và có khả năng trong ngành công nghệ nói chung) thì linh động hơn. Những hacker giỏi luôn tìm được việc gì đó để làm. Có thể không được như mơ những ít nhất cũng không chết đói.

Một lợi thế khác khi kinh tế xấu đó là sẽ có ít cạnh tranh hơn. Công nghệ cũng như những đoàn tàu đều đặn rời ga. Nếu mọi hành khách khác đang nép vào góc vì sợ, bạn có thể có cả khoang để đi.

Là người sáng lập, bạn cũng là một nhà đầu tư. Bạn mua cổ phiếu bằng công sức của mình. Lý do Larry và Sergey giàu không hẳn bởi họ đã làm ra những thứ trị giá hàng chục tỉ đô, mà bởi họ là những nhà đầu tư đầu tiên vào Google. Và cũng như bất kì nhà đầu tư nào khác, bạn nên mua khi tình hình khó khăn.

Vài đoạn trước bạn có gật gù đồng ý rằng mấy tên đầu tư thật ngu không, khi tôi nói họ chần chừ đầu tư vào thị trường xấu, ngay cả khi đó là thời điểm đáng lý ra rất nên đổ tiền vào? Các ông sáng lập cũng không khá hơn. Khi tình hình khó khăn, nhiều người chọn con đường đi học tiếp. Chắc hẳn lần này cũng vậy. Thực ra, chính tại vì hầu hết mọi người đều không tin những gì tôi nói ở vài đoạn trước – ít nhất là họ cũng không dám làm thử như tôi nói.

Vậy có thể thời kì suy thoái là lúc tốt để khởi nghiệp. Cũng khó nói liệu lợi thế từ việc ít bị cạnh tranh có bù được bất lợi khi ít được đầu tư không. Dù sao kiểu gì cũng không phải là vấn đề lắm. Quan trọng là ở con người. Và dù là ai đi chăng nữa nhất là trong ngành công nghệ, thời điểm hành động luôn là ngay bây giờ.

Gia Khánh
--------0--------

Những nghề "HOT" dù suy thoái kinh tế

“Khó khăn” là từ nhiều người dùng để miêu tả cuộc sống của họ trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Khó khăn từ việc “chạy ăn” đến “công việc, thu nhập,...”. Tuy nhiên, không phải lúc nào suy thoái cũng đi liền với khó khăn.

Chuyên gia nghề nghiệp Andrea nói: “Suy thoái là thời điểm kinh tế chậm lại và sự phát triển của một quốc gia bắt đầu giảm sút. Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp sẽ bị thiệt hại lớn về tài chính vì vậy việc cắt giảm nhân sự là điều khó tránh khỏi. Ý nghĩ khó có thể tồn tại trong thời kỳ suy thoái đã và đang chiếm lĩnh tâm trí của nhiều người. Tuy nhiên, suy thoái không có nghĩa là không thể kiếm tiền để nuôi sống gia đình, bản thân”.

Dưới đây là danh sách những công việc sẽ đem lại cho bạn thu nhập ổn định dẫu cho kinh tế có suy thoái.

1. Kỹ năng sáng tạo của bạn như nhiếp ảnh, hội họa có thể giúp bạn kiếm thêm thu nhập. Đầu tư một khoản nhỏ vào studio chụp ảnh là một ý kiến không tồi để bạn vừa có thể thỏa sức theo đuổi ước mơ, thể hiện tài năng vừa giúp gia đình kiếm tiền trong thời kỳ kinh tế đang khó khăn.

2. Làm đẹp bao giờ cũng là nghề “hot” vì đánh vào tâm lý con người. Ai cũng mong muốn mình đẹp hơn, tự tin hơn và đó là lí do làm đẹp luôn có thị trường dẫu cho kinh tế có suy thoái. Đầu tư vào một cửa hiệu làm đầu, spa hay một thứ gì đó liên quan đến làm đẹp là bạn đã có thể bắt đầu thiết lập lại cuộc sống của bản thân.

3. Lập một văn phòng nhỏ để tư vấn cho khách hàng về pháp luật liên quan đến thuế. Một người có kiến thức tốt về các loại hình thuế cùng những thứ liên quan sẽ là khởi nguồn tốt cho một kế hoạch kinh doanh. Đơn giản với một chiếc bàn, máy tính, phần mềm khai thuế là bạn đã có một văn phòng tư vấn sẵn sàng “tác chiến”.

4. Nếu giảng dạy là niềm đam mê thì đây là thời điểm dành cho bạn. Bạn có thể tìm những trung tâm ngôn ngữ để thực hiện ước mơ.

5. Bắt đầu buôn bán những mặt hàng tiêu dùng tại nhà cũng là một sự lựa chọn không tồi. Mặc dù kinh tế có suy thoái nhưng những nhu cầu hàng ngày như ăn, ngủ, nghỉ sẽ không thể thiếu. Vì vậy, khi nào con người còn nhu cầu thì công việc của bạn còn phát huy tác dụng và ngược lại. Tuy nhiên, không ai là không có nhu cầu vì thế đừng quá lo lắng.

6. Cũng theo chuyên gia Andrea: “Một số doanh nghiệp duy trì được trạng thái ổn định ngay cả khi kinh tế suy thoái. Trong thực tế, họ cần có một nguồn lao động tạm thời để đối phó với các trường hợp xấu nhất có thể xảy ra. Hãy thử tìm kiếm một “chân” trong nguồn lao động dự bị để tạm thời đảm bảo cho cuộc sống.

7. Các trang web và blog cũng có thể trở thành nguồn thu nhập cho bạn trong thời kỳ suy thoái. Bằng cách đặt quảng cáo thông minh trên các trang web, bạn có thể kiếm được một lượng tiền nhất định thông qua thế giới ảo.

8. Một tiện ích nữa của thế giới ảo đó là buôn bán hàng qua mạng. Đây đang được xem là một hình thức kinh doanh hiện đại với vốn đầu tư nhẹ nhàng mà lợi nhuận thu được lại cao. Bạn có thể buôn bán nhiều mặt hành khác nhau như quần áo, giày dép, túi xách, điện thoại,...
Thảo My

--------0--------

Sử dụng đồng tiền thời buổi khó khăn

Khi kinh tế khó khăn, một trong những nơi bạn có thể tìm kiếm lời khuyên khôn ngoan nhất đó là những người từng trải qua thời khủng hoảng - chẳng hạn như ông bà của bạn. Và đây là 10 ý tưởng bạn có thể thu được từ họ, đăng trênthestreet.

1. Tiết kiệm không phải là từ xấu

Nhiều người thường đánh đồng sự tiết kiệm với "rẻ tiền", nhưng điều đó không phải là sự thật.

Tiết kiệm đơn giản là sử dụng tối đa những gì bạn có và mua, không mua những thứ bạn không thực sự cần đến.

Trong khi ông bà cha mẹ bạn học được cách tiết kiệm trong thời kỳ khó khăn, nhiều người vẫn tiếp tục làm điều đó kể cả khi kinh tế đã khá lên, và điều đó giúp họ giàu có.

2. Sử dụng những gì bạn có

Trong một xã hội tiêu thụ, bất cứ vấn đề gì bạn gặp phải luôn có thể được giải quyết bằng tiền. Nếu có thứ gì hỏng, chỉ việc ra ngoài mua thứ mới. Nếu có thứ gì vỡ, ra ngoài mua thứ thay thế.

Nhưng thời của ông bà bạn, khi có thứ gì vỡ, việc đầu tiên họ làm là xem có thể sửa chữa được không. Nếu không thể sửa được, thì trước khi vứt vào sọt rác, họ cũng sẽ xem liệu nó có ích vào việc khác hay không. Không có lý do gì để ra ngoài và tốn tiền vào một thứ mới trong khi bạn có thể vẫn tìm cách sử dụng lại món đồ mà bạn đã có.

3. Tự mình xử lý nếu có trục trặc

Khi sửa chữa thứ gì đó, việc đầu tiên ông bà bạn làm là tự mình tìm hiểu vấn đề. Thay vì gọi cho thợ, trước tiên họ xem mình có thể làm được hay không.

Điều quan trọng bạn cần nhớ là hầu hết công việc sửa chữa không thực sự khó như bạn tưởng, và bạn có thể tự mình làm với một chút tìm tòi và kiên nhẫn.

4. Mọi vật đều có thể sử dụng cho nhiều mục đích

Mọi người có xu hướng mua một món đồ cụ thể và sử dụng nó cho mục đích duy nhất ấy. Điều mà ông bà bạn biết rõ là mọi thứ đều có thể tái sử dụng trong vòng đời của chúng. Chiếc áo sơ mi sờn cổ, không thể mặc ra ngoài có thể trở thành cái áo ngủ ban đêm, và trở thành giẻ lau khi nó bắt đầu thủng lỗ.

5. Nợ nần là điều nên tránh

Trong thời đại của thẻ tín dụng, khi tiêu tiền, điều mà bạn không có hiện nay là sự tư vấn rằng làm điều đó đúng hay sai, trong khi thời của ông bà bạn, mọi người đều tin chắc nợ nần là điều nên tránh. Nếu họ có tiền, họ sẽ đơn giản là vạch ra kế hoạch để thực hiện việc mình muốn. Mượn bạn bè hoặc người thân, tiết kiệm tiền hoặc tìm một thứ khác để dùng thay thế..

6. Tích cốc phòng cơ (để dành cho lúc khó khăn)

Mọi người đều biết rằng trước sau gì sẽ có những ngày mưa gió. Ông bà của bạn hiểu rõ điều này và đặc biệt để dành tiền cho những ngày mưa gió ấy. Còn giờ đây, bạn nên nghĩ rằng sẽ là chuyện bình thường khi để dành một quỹ khẩn cấp, khi tài chính không đi đúng hướng như bạn hình dung.

7. Đồ cũ cũng có thể tốt như đồ mới

Việc mua một chiếc ô tô cũ còn tốt mới qua sử dụng 2-3 năm đã trở thành lời khuyên tài chính cho những ai muốn sở hữu xe hơi. Ông bà của bạn hiểu rằng chuyện xảy ra với người chủ cũ không có nghĩa là đồ vật đó bị xem là vô giá trị. Họ cũng biết rằng điều này không chỉ đúng với xe hơi, mà còn mở rộng sang hầu hết lĩnh vực khác, khi mà thị trường đồ second-hand hết sức phong phú.

8. Thời trang không phải là mục tiêu chính

Khi mua bán, ông bà của bạn biết rằng không phải bề ngoài của thiết bị đó thế nào, mà là nó làm được gì mới quan trọng. Một chiếc Rolex trông sang đấy, nhưng nó không hiện giờ tốt hơn một chiếc đồng hồ thường mua tại cửa hàng gần nhà. Hãy học cách mua đồ vật vì chức năng của nó chứ không phải vì ngoại hình để tiết kiệm tiền.

9. Mặc cả

Khi phải mua một món đồ, ông bà của bạn không chạy tọt ra cửa hàng và khuân về ngay. Họ sẽ bỏ thời gian để mặc cả. Việc đó có nghĩa là tìm hiểu mặt bằng giá rồi đợi đến khi phù hợp, chứ không chỉ là rút thẻ tín dụng ra và mua, ngay cả khi trong thẻ không đủ tiền. Mặc cả mất thời gian, nhưng khi làm được, bạn sẽ có thành quả lớn.

10. Bánh ở nhà là ngon nhất

Trong một xã hội mà mọi thứ đều có thể mua bán thuận tiện, thật khó mà nhớ được lần cuối cùng bạn tổ chức bữa ăn ở nhà là khi nào. Điều mà ông bà bạn biết là không chỉ rẻ hơn, mà món ăn do mình nấu ở nhà cũng ngon hơn nhiều. Hãy nghĩ thế này, có bao giờ bạn định bán đĩa bánh của ông bà làm cho bất kỳ hiệu bánh tên tuổi nào?

Những cách tiêu tiền trên dường như quá đơn giản trong thời đại mà các công cụ kinh tế đầy rẫy như hiện nay, nhưng nguyên tắc sống dưới mức tiềm năng, tích cốc phòng cơ, đạt được bằng cấp và đầu tư vào tương lai vẫn là những châm ngôn có thể mang lại ích lợi cho rất nhiều người ngày nay.

Thuận An
(*) Sưu tầm & tổng hợp: tư vấn khởi nghiệp