A Pro Branding design Company

Logos Ads Brand identify designing and consulting

Portfolio

This is what we've been wroking on

Hiển thị các bài đăng có nhãn Quản trị Nhân sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quản trị Nhân sự. Hiển thị tất cả bài đăng
[Tư vấn quản lýKết quả của tổ chức Futurestep gần 50% đối tượng lao động này sẵn sàng từ bỏ một công việc mà họ đang hài lòng nếu họ cảm thấy doanh nghiệp không thực hiện được các cam kết về đổi mới.

Theo một báo cáo mới đây của Futurestep, một công ty của Korn/Ferry International, tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn và tuyển dụng nhân sự cấp cao hàng đầu thế giới (http://www.kornferry.com), bộ phận nhân sự của các công ty phải suy nghĩ “lớn hơn” về vấn đề đổi mới trong tuyển dụng và phát triển nhân sự nếu muốn giữ lại những nhân viên tài năng nhất.

Futurestep đã nghiên cứu tác động của các phương pháp đổi mới trong việc tuyển dụng, phát triển và giữ lại nhân viên thông qua việc khảo sát 4.000 lao động có trình độ chuyên môn cao trên toàn thế giới.

Kết quả cho thấy gần 50% đối tượng lao động này sẵn sàng từ bỏ một công việc mà họ đang hài lòng nếu họ cảm thấy doanh nghiệp không thực hiện được các cam kết về đổi mới. Báo cáo của Futurestep cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp chỉ có một khoảng thời gian tối đa sáu tháng để thực hiện những phương pháp đổi mới nhằm phát triển và giữ lại nhân viên.

Trong khi đó, 40% nhân viên xác nhận rằng “sự đổi mới mang nặng tính hình thức” cũng sẽ làm cho họ có cảm giác tiêu cực về doanh nghiệp. Các công ty Apple, Google, Coca-Cola và Facebook được xem là những công ty đi đầu trong đổi mới về phương pháp phát triển và giữ lại nhân tài.

Người lao động trên toàn cầu mong muốn tổ chức của mình luôn đổi mới và sáng tạo, nhưng đồng thời họ cũng sẽ sẵn sàng cống hiến hết mình cho tổ chức khi được làm việc trong một môi trường luôn đi đầu trong đổi mới. Nghiên cứu của Futurestep khẳng định rằng, trong thị trường lao động cạnh tranh như hiện nay, sự đổi mới có thể giúp doanh nghiệp thu hút những nhân tài giỏi nhất đang rất hài lòng với tổ chức hiện tại của họ.

Khảo sát cho thấy, khoảng 70% nhân viên cho biết sẽ từ bỏ một công việc nếu họ nhận được đề xuất tuyển dụng cho một công việc mới ở một tổ chức khác với nhiều lợi ích mới mẻ hơn, trong khi 55% cho biết sẵn sàng từ bỏ một công việc mà mình đang hài lòng nếu được một tổ chức khác tiếp cận theo một cách rất sáng tạo và mới lạ.

“Những ý tưởng sáng tạo trong tuyển dụng và quản lý nhân viên rõ ràng khơi gợi rất mạnh mẽ sự tưởng tượng của những người lao động có trình độ chuyên môn cao hiện nay, tạo cho họấn tượng ban đầu khác biệt về nhà tuyển dụng cũng như nhiều hứng khởi và niềm tin vào những điều tốt đẹp về môi trường làm việc trong tương lai. Những người tài quan niệm sự đổi mới bao gồm ba yếu tố: thay đổi, cải thiện và suy nghĩ hướng về tương lai. Họ mong muốn tìm được những tổ chức thể hiện được cả ba yếu tố này ngay từ khi họ tiếp xúc lần đầu tiên” – Byrne Mulrooney, Tổng giám đốc của Futurestep chia sẻ.

“Đối với các công ty toàn cầu, cách giao tiếp với người lao động đã và đang làm việc cho mình cũng như các ứng viên trong tương lai đóng một vai trò ngày càng quan trọng, tác động mạnh đến nhận thức của họ về doanh nghiệp với tư cách là một khách hàng và họ sẽ chia sẻ những quan điểm, nhận thức ấy với bạn bè và người thân của mình”, Mulrooney giải thích thêm.

Futurestep cũng đã thực hiện khảo sát hơn 800 chuyên gia tuyển dụng và quản lý nhân tài trên toàn cầu. Kết quả cho thấy 74% tin rằng tổ chức của họ cần phải thực hiện đổi mới hơn nữa trong lĩnh vực tuyển dụng và quản lý nhân tài, 78% thì cho rằng những đổi mới này chính là chìa khóa để đạt được các mục tiêu tăng trưởng trong toàn bộ tổ chức.

Theo Futurestep, để đổi mới các doanh nghiệp không chỉ cần phải theo dõi những xu hướng mới nhất và thử nghiệm các ứng dụng mới nhất trong truyền thông xã hội vào việc tuyển dụng và quản lý nhân tài mà còn phải áp dụng các kỹ thuật và ý tưởng mới để củng cố văn hóa công ty, cải thiện cách hành xử của nhân viên trong thế giới công việc và từ đó hỗ trợ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh.

Theo Đông Dương (DNSG/HR Magazine)
Quan-ly-nhan-su-9-dieu-can-lam
[Tư vấn Marketing4u - Quản trị] - Quản lý nhân sự là ai ? họ làm gì trong công ty? Làm thế nào để làm tốt vai trò của một quản lý nhân sự?

Nếu hỏi một giám đốc điều hành (CEO): “Quản lý nhân sự của công ty làm gì?”, thì đa phần câu trả lời là: “Tôi chỉ biết cần phải có một quản lý nhân sự”. 

Hầu hết các CEO cũng không có câu trả lời cho câu hỏi: “Làm thế nào để quản lý nhân sự giúp công ty cạnh tranh?”, và họ cũng không có danh sách hoạt động cụ thể cần phải làm của bộ phận phụ trách nhân sự nhằm thúc đẩy sự cạnh tranh trong công ty.

Vì thế, Liz Ryan, người có kinh nghiệm làm việc cho nhiều công ty trong danh sách Fortune 500 (Mỹ), chia sẻ những việc mà các nhà quản lý nhân sự cần phải làm ngay:

1. Phối hợp với các nhà quản lý để xây dựng và truyền đạt một tầm nhìn cho công ty.

2. Quảng bá công ty gắn với hình ảnh trọng dụng nhân tài, quảng bá bằng mọi phương tiện, kể cả truyền miệng. Một lãnh đạo nhân sự nên hiểu rõ văn hóa của công ty và có những câu chuyện không chỉ sử dụng cho mục đích tuyển dụng, mà còn để tạo động lực cho tất cả các hoạt động với khách hàng, nhà cung cấp, phương tiện truyền thông và cộng đồng doanh nghiệp.

3. Huấn luyện tất cả nhân viên nói lên sự thật tại nơi làm việc. Bởi vì, sự thật là văn hóa của mọi công ty lớn.

4. Củng cố một nền văn hóa doanh nghiệp linh hoạt và khéo léo.

5. Xây dựng một lực lượng nhân sự phù hợp với mục tiêu tăng trưởng của công ty, tạo lập mô hình tuyển dụng hiệu quả.

6. Soạn thảo các quy định nhân sự đáp ứng quy định của công ty nhưng không quá nhiều để không khiến nhân viên bị lúng túng hoặc có cảm giác bị đối xử như trẻ em.

7. Xây dựng một nền văn hóa hợp tác để tạo động lực cho tất cả các hoạt động, chiến lược quan trọng.

8. Gieo ý thức cho nhân viên về công việc kinh doanh, sự nghiệp và cuộc sống nói chung. Đây là việc thường xuyên mỗi ngày chứ không phải cuộc khảo sát hằng năm.

9. Thay thế nỗi sợ hãi bằng sự tin tưởng trong chính sách, các buổi đào tạo, thực hành quản lý, và qua mỗi cuộc nói chuyện tại chỗ.
Theo: doanhnhan
Sưu tầm: Masgroup.vn
[Tư vấn Marketing - Lãnh đạo] Đã qua rồi cái thời mà giữa người lãnh đạo và cấp dưới tồn tại những khác biệt quá lớn.

Giờ đây, những nhân viên xuất sắc đã có thể tiếp bước người đi trước với vai trò lãnh đạo. Augie Turak, người từng làm việc tại những công ty và tập đoàn lớn như MTV, Adelphia Communications, Data Broadcasting Corporation, UPI, Bell Atlantic, Federal News Service, Applied Control Systems, Mutek Solutions và có kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm về những giá trị tinh thần để thành công trong cuộc sống sẽ chia sẻ những bí quyết lãnh đạo bổ ích trong kinh doanh.

Năm 1982, Augie Turak từ bỏ công đáng mơ ước ở công ty dịch vụ truyền hình cáp MTV: Music Television (nay là Đài truyền hình A&E Network) để cộng tác với Jim Collins. Collins đã truyền dạy cho Turak sự uyên thâm của một nhà nghiên cứu, nhà văn kiêm tư vấn kinh doanh nổi tiếng.

Ông nói: “Hãy nhớ lấy, Augie, rằng ai cũng có ông chủ để phục tùng. Tỉ dụ như phó giám đốc phải báo cáo cho ngài giám đốc, ngài giám đốc phải báo cáo cho CEO, CEO lại báo cáo cho Chủ tịch Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị về nhà... báo cáo với vợ. Nếu muốn trở thành một nhà lãnh đạo tài ba, anh cũng phải là một kẻ biết phục tùng.”

Turak cũng hiểu rõ những gì mà Louis Mobley, người đứng đầu trường quản trị IBM đúc rút, rằng con người giờ đây đều rất tỉnh táo, biết nghĩ cho bản thân và có khả năng tạo ra những thay đổi khi có động lực. Bài học từ những người thầy uyên bác cùng kinh nghiệm tự thân đã giúp Turak đúc rút nên 11 bí quyết lãnh đạo mà có thể bạn chưa từng nghe thấy trước đó.

1. Biết nắm lấy thế chủ động

Câu chuyện sếp ra lệnh “Nhảy đi!” và nhân viên hỏi lại “Nhảy cao bao nhiêu thì vừa ạ?” đã không còn tồn tại trong môi trường kinh doanh ngày nay, bởi những ông chủ hiện đại cần cấp dưới đưa ra những ý tưởng mới mẻ chứ không cần những con ong thợ thụ động đợi lệnh từ cấp trên. Một kẻ phục tùng có năng lực phải là người biết nói “Tôi nghĩ chúng ta cần thực hiện phương án này” thay vì “Sếp cần em làm gì ạ?”

2. Tự tạo ra công việc cho chính mình

Collins từng dạy cho Turak cách thức chung để tiếp cận với mọi công việc mới, đó là nhận diện những mục tiêu vừa sức có thể đạt được trong một khoảng thời gian ngắn, sau đó thảo ra một bản kế hoạch kèm một bản ghi chép tiến độ thực hiện.

Quan trọng hơn, ông còn phải chuẩn bị bản kế hoạch sẵn sàng trước khi sếp hỏi đến. Theo cách đó, Turak đã tạo cho mình ấn tượng của một nhân viên có khả năng lãnh đạo. Lợi ích của việc làm này sẽ giúp cấp dưới có được tính tự chủ, biến công việc nhàm chán thành niềm vui mỗi ngày.

3. Tỏ ra có thể dễ dàng huấn luyện

Một lần Collins chia sẻ với học trò Turak một bí mật nhỏ: thay vì mang theo cả một cuốn vở, ông lấy một tờ giấy nhỏ, gấp làm ba rồi cho vào túi ngực của áo khoác để tiện ghi chép.

Turak cũng răm rắp làm theo, nhưng từ khi rời bỏ công việc ở một công ty nọ, ông cũng từ bỏ luôn thói quen đó khi nhận ra rằng dường như ông chỉ bắt chước để lấy lòng bản thân mà thôi.

Thực ra, Turak có một mục đích lớn hơn, đó là bằng việc làm nhỏ như trên để chứng tỏ cho Collins thấy ông là người có thể được huấn luyện, dìu dắt trong những công việc quan trọng khác.

4. Biết tiên liệu sự việc

Giống như một chiếc radar, cấp dưới có thể đi trước sếp một bước bằng cách chủ động đặt ra câu hỏi: “Nếu là lãnh đạo mình sẽ làm gì tiếp theo?”.

Thời còn làm việc ở MTV, trợ lý 23 tuổi của Turak, Sheri Gottlieb đã gây ấn tượng mạnh với ông khi chỉ trong vài tuần lễ, 90% công việc chất đống trong hộp thư đến đã được giải quyết nhanh gọn trong khi Turak không yêu cầu chi tiết mà chỉ nói đơn giản “Sheri, giải quyết chúng giúp tôi nhé.”

Không đợi sếp phải yêu cầu thêm, nhanh như radar, Sheri đã xử lý gọn ghẽ mọi công việc trước khi chúng được đặt lên bàn của sếp. Đó là lý do vì sao Turak chẳng hề ngạc nhiên khi không lâu sau, Sheri từ vị trí thư ký quèn đã được thăng chức phó giám đốc.

5. Biết đối ngoại

Nếu sếp đã từng có lần phải đích thân hỏi nhân viên về báo cáo tiến độ công việc, điều đó có nghĩa là cấp dưới đang mất điểm trong mắt sếp. Những người chèo lái công ty có hàng trăm nghìn mối lo, do đó nhân viên cần giúp sếp vơi bớt đi những lo lắng đó bằng việc thông tin cho sếp những điều họ biết.

Nếu cấp dưới không giữ mối liên lạc thường xuyên với cấp trên, sếp sẽ cho rằng nhân viên đang che giấu những thông tin không hay về công ty, bởi những người đứng đầu luôn cần biết những tin tức bí mật mà thường không ai dám tiết lộ.

6. Lấy mục tiêu phấn đấu làm động lực

Các sếp lúc nào cũng bận trăm công nghìn việc, do đó, giám sát hoạt động công ty là công việc ít người muốn làm nhất. Những cấp dưới có năng lực lại nghĩ khác: họ sẽ đặt công việc của ngày hôm nay làm ưu tiên hàng đầu để thực hiện mục tiêu tương lai. Họ trả lời thư trong hộp thư đến với hi vọng guồng quay công việc bận rộn sẽ tạo ra một điều gì đó kỳ diệu trong tương lai.

Dù sếp cũng sẽ không trả lương cao hơn cho những nhân viên làm việc chăm chỉ mà chỉ quan tâm xem cấp dưới có thực hiện đúng những mục tiêu đã đề ra hay không thì nhân viên vẫn cần lấy mục tiêu phấn đấu làm động lực để hoàn thành công việc.

7. Nói ít làm nhiều

Turak từng hướng dẫn một sinh viên trẻ theo học ngành thạc sĩ quản trị kinh doanh. Lần gặp gỡ đầu tiên, Turak bỗng dưng quên mất một câu trích dẫn. Cậu sinh viên lặng lẽ lấy ra một cuốn sách chia từng mục gọn ghẽ có ghi chép tất cả những gì Turak từng viết và nhanh chóng tìm ra câu trích dẫn chính xác.

Sự chuẩn bị của cậu sinh viên đã thể hiện mức độ nghiêm túc một cách thuyết phục hơn bất cứ bài phát biểu sôi nổi nào khác. Do đó, Turak đã quyết định sẽ đầu tư thêm thời gian và công sức để hướng dẫn sinh viên này.

8. Chiếm được lòng tin của sếp

Mục tiêu hàng đầu của Turak khi nhận một công việc mới là làm sao để sếp cảm thấy như được thư giãn. Càng sớm có được lòng tin của sếp, sếp sẽ càng nhanh chóng quên đi nhân viên để chuyển mối quan tâm sang những thứ khác như, thời gian, tiền bạc… Louis Mobley từng nói lòng tin phục thuộc vào lời hứa và khả năng thực hiện lời hứa đó.

Những người có thể tin cậy được là người thực hiện đúng lời hứa, trong khi những người nói lời không giữ lấy lời thì hoàn toàn không đáng tin. Việc tạo dựng lòng tin với sếp là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn đầu, nhân viên phải thực hiện tất cả những cam kết với sếp, dù chúng có nhỏ nhặt đến cỡ nào đi chăng nữa.

9. Đề xuất giải pháp

Những nhân viên không có thực lực sẽ chỉ khiến mọi việc trở nên rối ren thêm, trong khi những cấp dưới ưu tú lại có khả năng giải quyết vấn đề, hoặc đề xuất giải pháp cho sếp.

10. Biết thông cảm

Nhân viên tốt phải là người biết cảm thông trước những áp lực công việc mà sếp phải chịu đựng. Chẳng hạn như sếp có thể phải mất một thời gian khá dài để thay đổi nhân sự, dành ra hàng tháng trời cùng hàng ngàn USD để tuyển dụng nhân viên mới.

Khi quá trình tuyển dụng hoàn tất, sếp còn phải trải qua nhiều đêm thức trắng vì lo lắng có thể đã tuyển nhầm người. Khi đó, nhân viên không chỉ đơn giản thông cảm với sếp mà còn phải tìm cách để sếp yên lòng bởi ít nhất vẫn có người hiểu và đáng tin cậy bên cạnh.

11. Trung thành

Nếu nhân viên không toàn tâm toàn ý với công việc thì đây có lẽ là lúc thích hợp để tìm kiếm một công việc mới. Cấp dưới phải là người cảm thấy tự hào khi làm được những việc khiến sếp tỏa sáng, thậm chí khi bất đồng quan điểm cá nhân đi chăng nữa, nhân viên vẫn phải thể hiện bộ mặt của một tập thể đoàn kết.

Nguồn: TTVN
[Tư vấn Marketing - Quản trị] Có lần, một cư dân mạng đã chia sẻ một câu chuyện về quan niệm của nhiều người về công việc và nghề nghiệp như sau:

“Bất kỳ lúc nào bị trễ giờ đến nơi làm, tôi lại chọn giải pháp tốt nhất là nhảy vào một chiếc taxi đầu tiên nhìn thấy bên đường. Thông thường, tôi luôn đặt ra vài câu hỏi để làm tan đi sự im lặng giữa người tài xế và khách, đại loại như “Hôm nay anh đã chở được bao nhiêu khách rồi?” và tiếp theo là “Anh có thấy thú vị với nghề lái taxi không?”.

Lần này, ngay khi những lời ấy vừa rời khỏi miệng, một cảm giác hối tiếc ập đến với tôi, dù hơi muộn màng. Sau năm phút nặng nề trôi qua, tôi mới nghe được lời đáp của người tài xế với câu hỏi thứ hai của tôi. Anh ta chậm rãi giải thích là làm tài xế taxi chỉ là một công việc, không phải là một nghề nghiệp.

Anh chẳng thấy vui vẻ gì khi cả ngày phải làm công việc nhàm chán này. Tôi tò mò, hỏi thêm về nghề nghiệp nào mà anh ta cho là tìm thấy được sự thú vị.

Câu trả lời là ví dụ làm bảo vệ một trạm ATM ở nơi nào đó. Tôi đã bật cười khi nghe điều ấy. Tôi định bụng là cho tới lúc tôi xuống xe, cứ mỗi ý tưởng vui như vậy được phát ra sẽ xứng đáng hưởng một khoản tiền bo. Và rồi tôi đã cười không chỉ một lần. Thật ra chuyện không đáng cười.

Sau khi những tiếng cười chấm dứt, tôi sớm nhận ra được một bài học mình vừa tiếp nhận. Đó là dù trong hoàn cảnh nào, điều thú vị mà người ta quan tâm đến là công việc đang làm có đường thăng tiến nào không. Có vẻ như điều ấy còn quan trọng hơn cả chính bản thân công việc mà họ đang làm nữa”.

Quay lại với chuyện quản lý trong doanh nghiệp. Câu hỏi được đặt ra là: Doanh nghiệp có chỉ ra được đầy đủ mọi lộ trình thăng tiến cho đội ngũ nhân viên của mình không? Liệu với những công việc không có đường thăng tiến thì nhân viên sẽ cảm nhận ra một ngõ cụt lấp ló ở cuối đường không? Khi không thăng tiến được, nhân viên sẽ chán nản, làm việc kém hiệu quả và liệu họ sẽ chuyển sang nơi làm việc mới không?

Xem ra, kịch bản của câu chuyện thăng tiến phải được xây dựng từ hai phía:

- Phía lãnh đạo doanh nghiệp cần thiết kế trước các lộ trình thăng tiến nghề nghiệp và đặt ra chính sách, tiêu chuẩn năng lực cần thiết đối với từng vị trí công việc theo một lộ trình, rồi công bố rộng rãi để mọi nhân viên đều có hình dung ra họ sẽ đi lên trong lộ trình đó ra sao.

- Phía đội ngũ nhân viên, ai cũng cần học hỏi và tích lũy dần những năng lực cần thiết nhằm đáp ứng được những đòi hỏi và mong đợi của doanh nghiệp đối với từng vị trí công việc trên suốt lộ trình để có thể nghiễm nhiên thăng tiến mà không lo gặp phải ngõ cụt vào một ngày nào đó.

Nói thì đơn giản như vậy, nhưng kỳ thực, việc doanh nghiệp thiết kế được các lộ trình thăng tiến cho đội ngũ nhân viên là một việc không dễ dàng chút nào. Nếu doanh nghiệp muốn mình sở hữu một nguồn nhân lực đủ mạnh, có sức cạnh tranh trên thị trường thì sớm hay muộn gì cũng phải cố gắng thực hiện cho được công việc đó. Nó cũng quan trọng tương tự những yếu tố khác như tài chính, khách hàng hay hệ thống các quy trình nội bộ trong doanh nghiệp

Theo DNSG Cuối tuần (Trương Trí Dũng)
[Marketing4u - Quản trị] “Nhân lực là tài sản quý giá của công ty”, hầu hết các doanh nghiệp dù lớn, dù nhỏ đều nhận thức được điều này. Tuy nhiên trong thực tế, công tác tuyển dụng tại rất nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện triệt để ý chí này của các nhà quản trị.

Bằng lăng kính chủ quan qua những kinh nghiệm đã trải qua trong công tác nhân sự, chúng tôi nhận thấy có 7 sai lầm đang tồn tại, cần phải thay đổi trong tuyển dụng:

1. Không nhận hồ sơ dự tuyển qua địa chỉ email

Đây là quan điểm rất lạc hậu trong thời đại CNTT đang phát triển và trở thành công cụ tiện lợi nhất, là lợi thế về tốc độ tiếp nhận và trao đổi thông tin cho chính các doanh nghiệp. Rất nhiều doanh nghiệp khi đăng tin tuyển dụng đã quy định không nhận hồ sơ qua email. Đây là cách làm mang màu sắc giấy tờ, phiền toái và là một trong những chướng ngại đối với nhiều ứng viên tiềm năng.

2. Không hồi đáp cho ứng viên khi nhận hồ sơ

Cho dù bạn nhận hồ sơ qua bất kỳ phương tiện nào, hãy hồi đáp cho ứng viên biết bạn đã nhận được hồ sơ ứng tuyển và thông tin sơ bộ về việc xem xét hồ sơ.

Với công cụ email, việc làm này rất dễ thực hiện, chỉ cần thiết lập chế độ phản hồi tự động. Nếu không sử sụng công cụ này để phản hồi tự động thì hãy dùng điện thoại, hộp thư thoại... Điều này giúp ứng viên cảm thấy mình được tôn trọng, biết chắc các nhà quản trị nhận được hồ sơ ứng tuyển của mình và xem xét đến nó. Từ đó, họ nuôi hy vọng và có thêm động lực để theo đuổi quá trình ứng tuyển. Và điều quan trọng nhất, họ sẽ nhớ đến công ty bạn. Tuyển dụng còn có vai trò PR, thậm chí là marketing mà các nhà tuyển dụng không nên xem thường.

3. Yêu cầu ứng viên viết đơn xin việc bằng tay

Kiểu này chỉ xuất phát từ quan niệm duy tâm của các nhà tuyển dụng có nguồn gốc đông bắc Á, hoặc chỉ là yêu cầu đối với rất ít vị trí cần chữ viết đẹp. Vậy mà, nhiều nhà tuyển dụng vẫn trung thành với yêu cầu này, dù đôi khi cũng không biết là nhằm mục đích gì.

Đây thực sự là một thao tác tạo ra sự chán nản đối với các ứng viên, nhất là các ứng viên ở vị trí trung, cao cấp. Có một số phép thử không còn phù hợp, cần mạnh dạn thay đổi.

4. Thiếu thận trọng trong điều tra lý lịch công tác

Cần hiểu một cách cơ bản rằng, không ai từ bỏ một môi trường làm việc hiện tại của mình để tìm đến công ty bạn nếu mối quan hệ giữa họ và các doanh nghiệp cũ hoàn toàn tốt đẹp. Chí ít, nó sẽ không còn là mối quan hệ tốt đẹp ngay sau khi họ nộp đơn xin nghỉ để đến với bạn.

Nếu điều tra xác minh, có đến 2/3 trường hợp bạn sẽ nhận được thông tin không mấy thiện cảm về ứng viên. Coi chừng bạn để tụt mất những ứng viên tốt. Vì vậy, chỉ nên thực hiện việc điều tra lý lịch công tác khi bạn cảm thấy ứng viên có vấn đề thực sự hoặc đối với các vị trí quan trọng liên quan đến tài chính...

5. Máy móc khi yêu cầu có xác nhận của địa phương trong lý lịch công tác

Thời đại toàn cầu hóa, tự do cư trú và di trú, việc trở về địa phương xác nhận lý lịch thực tế chẳng có tác dụng gì hoặc rất ít. Việc này tồn tại khá lâu do dư âm của kinh tế bao cấp và với các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức đoàn, đảng, hội... Một số doanh nghiệp lười tư duy, vận dụng không đúng, gây mất thời gian, tự mình làm hạn chế nguồn ứng viên đến với mình. Đơn giản là họ không có thời gian và nếu họ thực sự là ứng viên có nhiều lựa chọn thì họ không làm những chuyện vô bổ như vậy.

Xác minh có nhiều cách, dạng này chỉ nhằm kiểm tra lý lịch tư pháp liên quan đến rất ít vị trí, các nhà tuyển dụng tự làm được, một cách dễ dàng mà không nên yêu cầu ứng viên như là một yêu cầu bắt buộc khi ứng tuyển.

6. Chậm chạp trong quyết định

Nhiều nhà tuyển dụng khi phỏng vấn không nói rõ cho ứng viên về quy trình tuyển dụng, thời gian có quyết định cuối cùng, chạm chập và khá tùy tiện. Thậm chí hẹn ứng viên lên gặp người có quyền quyết định cuối cùng nhưng không nỗ lực sắp xếp thời gian hợp lý sau đó cho họ gặp đại một ai đó vì lỡ hẹn... Đây là biểu hiện của sự thiếu chuyên nghiệp, thiếu thiện chí. Những ứng viên tốt sẽ nhận ra ngay điều này và sẵn sàng từ bỏ ý định.

Một điều thường xảy ra là khi kết thúc buổi phỏng vấn, một số nhà tuyển dụng không có động thái nào tạo cho ứng viên cảm thấy mình còn hy vọng, đến khi có quyết định, ứng viên đã chọn bến đỗ khác. Nên nhớ, khi họ tìm việc thì dứt khoát không phải chỉ đến một mình công ty bạn, họ luôn có những lựa chọn khác nhau.

7. Cứng nhắc về hồ sơ thủ tục

Những thứ không cần thiết cần mạnh dạn bỏ hoặc có thể đề nghị bổ sung sau. Chúng tôi lấy ví dụ “giấy khám sức khỏe” chẳng phản ánh cái gì về sức khỏe của ứng viên cả. Đừng nên vì những thủ tục mà tự làm khó mình.

Thái độ cầu thị của nhà tuyển dụng khi được sự cầu thị của ứng viên bắt gặp thì công tác tuyển dụng mới thành công.

Tuyển dụng có thể được xem như là một ván bài. Đôi khi bạn đang cầm trên tay những con bài tốt mà không nhận ra hoặc không tận dụng được để giành thế thắng. Các bước đi trong một ván bài là rất quan trọng, nó quyết định kết quả mà bạn nhận được.

Theo DNSG (Trương Đăng Ái)
[Marketing4u - Nhân sự] Tuyển dụng có vai trò tuyệt đối quan trọng cho sự thành công của những công ty khởi nghiệp. Sự phát triển thần tốc của Amazon.com trong thời gian đầu là nhờ một đội hình ”những cầu thủ rất giỏi”.

Jeffrey Bezos, nhà sáng lập Amazon không chỉ là một doanh nhân sáng tạo mà còn là một nhà tuyển trạch tài ba và nhạy cảm.

Ông tâm sự: “Ngay khi công ty mới thành lập được 2 năm, tôi đã nhanh chóng học được công thức tối ưu cho một công ty mới thành lập. Đó là tạo ra một sản phẩm mà mọi người cần và tuyển những người tài năng và có động lực mạnh mẽ để cùng xây dựng sản phẩm đó. Nhưng một sản phẩm tuyệt với hiếm khi hoàn thiện ngay ngày đầu tiên. Thay vào đó, nó dần hoàn thiện thông qua quá trình điều chỉnh dựa trên những phản hồi của người dùng. Và bạn cần những nhân viên thông minh, sâu sắc để thực hiện những điều này“. 

Sau đây là những bí quyết tuyển dụng của Jeffrey:

Ông chia những ứng viên tiềm năng thành 3 nhóm:

Nhóm A: Những ứng viên này có một sự kết hợp đặc biệt giữa tài năng và động lực. Họ là những nhân tố hiếm hoi và chúng tôi làm mọi thứ có thể để tuyển những ứng viên này ngay lập tức. 

Nhóm những người có khả năng nhưng không phù hợp: Những ứng viên vô cùng tài năng nhưng rất tiếc họ không thể hiện đủ động lực và đam mê đối với công ty của chúng tôi. Trong khi chúng tôi muốn tuyển những người này để thu hút tài năng, nhưng chúng tôi biết rằng động lực và tham vọng là những yếu tố không thể áp đặt. Vì thế chúng tôi bỏ qua những người này. 

Nhóm những ngôi sao tương lai: Những ứng viên có động lực nhưng chưa có đủ kỹ năng hay chuyên môn là những người chúng tôi đang tìm kiếm. Những ứng viên này có thể là những người học hỏi nhanh, lúc này chúng tôi cần phải xác định xem liệu chúng tôi có đủ thời gian cần để đạo tào và đưa họ vào guồng máy hay không. 

Đối với nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp, tuyển những người hạng A là lựa chọn duy nhất. Trong khi những ngôi sao tương lai sẽ là những cuộc tuyển dụng tuyệt vời cho những công ty ở giai đoạn lớn hơn, vì trong giai đoạn khởi đầu công ty cần hoạt động với nhịp độ nhanh chóng. 

Sẽ không ngạc nhiên rằng khó để tìm những người hạng A: họ rất ít,khó với tới và mọi người đều muốn họ. Chúng tôi đã gặp may mắn khi tìm và tuyển được một số người tài năng và có động lực cao.


Sau đây là kế hoạch của chúng tôi trong việc giành chiến thắng trong cuộc cạnh tranh giành tài năng này: 

Tận dụng mạng lưới mối quan hệ

Hãy chủ động tạo dựng quan hệ (tôi không nói tới LinkedIn hay những hội chợ việc làm). Những ứng viên tốt nhất không đang tìm kiếm công việc và thụ động xem xét những cơ hội. 

Bạn cần đến tận nơi để gặp những ứng viên này và xây dựng mối quan hệ với họ. Điều này nghĩa là nếu bạn muốn thuê một chuyên gia phát triển phần mềm, bạn cần tham dự những hội thảo công nghệ. Nó đồng nghĩa với việc có rất nhiều cuộc đối thoại và những cuộc tiếp xúc để tìm ra được những ứng viện hạng A phù hợp cho công ty bạn. 

Tìm kiếm sự đam mê 

Điều tồi tệ nhất mà một ứng viên có thể làm là gửi đi một bức thư tự giới thiệu sôi nổi nhưng không hiểu về công ty của bạn. Tôi bị ấn tượng bởi những người thể hiện rằng họ đã dành thời gian để hiểu sản phẩm của chúng tôi, và rằng họ hào hứng với nó. Nhưng chúng tôi luôn nhanh chóng đặt câu hỏi rằng liệu anh ta hay cô ta có hiểu về sứ mệnh, giá trị và thông điệp của chúng tôi. Đây là một trong những yêu cầu cốt lõi vì nó là yếu tố khởi nguồn cho sự đam mê. Đam mê là một động lực mạnh mẽ và là một phần quan trọng để đánh giá một nhân viên giá trị.

Cộng đồng khách hàng

Nếu như bạn có một sản phẩm làm hài lòng người tiêu dùng thì họ rất có thể là sự bổ sung tuyệt vời cho đội ngũ của bạn.

Đừng quên chia sẻ cơ hội công việc với cộng đồng người tiêu dùng của bạn, và nhờ họ giới thiệu. Đôi khi bạn sẽ tìm được những ứng viên tốt nhất. Một trong số các khách hàng của công ty đã làm chúng tôi chú ý khi anh ta liên hệ với chúng tôi bằng một phần mềm gắn sẵn trình duyệt mà anh ta đã viết để khôi phục lại và chạy những dữ liệu thô chúng tôi dùng để xây dựng những biểu đồ. Dòng mã của anh ta giới thiệu dữ liệu mua và bán từ tài khoản đã làm chúng tôi ấn tượng. Tôi liên hệ với anh ta ngay lập tức. 

Tuyển những chuyên gia năng động

Chúng tôi tập trung vào việc tuyển những nhân viên là chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau và họ có khả năng chuyển sang những lĩnh vực khác nếu cần. Sự linh hoạt là quan trọng với một công ty mới thành lập, vì 65% công ty mới thành lập trải qua một sự thay đổi đáng kể tại một thời điểm nào đó. Thậm chí nếu chiến lược tiếp cận thị trường của công ty mới thành lập không thay đổi, thì cũng có thể sẽ có những thay đổi lớn lao đối với công nghệ hay quy trình phát triển sản phẩm. 

Trả xứng đáng cho tài năng

Nếu như bạn muốn tuyển những người hạng A, bạn nên mong đợi để trả nhiều hơn một chút những gì mà những người hạng A đang nhận được cho công việc họ làm tại công ty hiện tại, và có thể là 20 -30% nhiều hơn những cộng sự của họ. Đừng quá chú ý đến sự khác biệt này. Steve Jobs đã mô tả sự khác biệt giữa một người lập trình trung bình và một người lập trình tuyệt vời ít nhất là 25:1. Với tỉ lệ này thì trả 30% hơn cho những tài năng thực sự là một món hời.

Tuyển dụng tất cả

Nếu bạn tìm thấy 2 ứng viên tốt, hãy thuê cả 2. Đừng phí thời gian xác định xem ứng viên nào giỏi hơn. Những người hạng A sẽ có vẻ như có nhiều lựa chọn. Đừng cho họ thời gian để xem xét các lựa chọn. Trái lại, nếu như bạn tìm 2 ứng viên trung bình, đừng tuyển ai cả. Hãy tiếp tục tìm kiếm. Để dành chỗ cho những người hạng A, và bạn sẽ đi được nửa đường đến thành công.

Nguồn: nhuongquyenvietnam.com
[Marketing4u - Quản Trị] Kinh doanh trực tuyến ngày càng phổ biến và trở thành xu hướng tất yếu ở các nước, trong đó có Việt Nam. Hiện các doanh nghiệp (DN) trong nước đã có sự chuẩn bị nhất định cho việc khai thác kênh xúc tiến bán hàng tiềm năng này, nhưng để phát triển nguồn nhân lực đủ mạnh, có kinh nghiệm và kỹ năng đáp ứng được yêu cầu là không dễ.

Cầu tăng

Theo thống kê của Vietnamworks. com, nhu cầu tuyển dụng của ngành internet/online Media đã tăng mạnh trong những năm gần đây. Năm 2011, nhu cầu tuyển dụng của ngành này đã tăng 2,043% so với năm 2009.

Và hiện nay, các vị trí liên quan đến thương mại điện tử (TMĐT) chiếm gần 4,9% trong tổng số nhu cầu trên Vietnamworks.com. Trong khi đó, tỉ lệ tuyển dụng trong các ngành nghề “lúc nào cũng cần” như bán hàng cũng chỉ chiếm 17,5%, marketing 12,5%, kế toán, kiểm toán 7,8%. 

Như vậy, dù chỉ mới bắt đầu phát triển nhưng nhu cầu về nhân lực trong lĩnh vực TMĐT giữ tỷ trọng không nhỏ trên thị trường tuyển dụng và đang có xu hướng gia tăng.

Theo ông Vincent Wong, Giám đốc Điều hành Bộ phận Phát triển Kinh doanh và Dịch vụ người mua của Tập đoàn Alibaba.com, một trong những lý do khiến nhu cầu lao động trong ngành TMĐT của Việt Nam tăng mạnh là do càng ngày càng có nhiều người tìm kiếm các sản phẩm mới và cơ hội mở rộng giao thương với các nước.

Hiện nay, các DN Việt Nam đang chủ động muốn tiếp cận nhà nhập khẩu nước ngoài thông qua TMĐT. Đã có 200.000 DN Việt Nam trở thành viên của Alibaba.com, cao hơn nhiều so với một số nước trên thế giới tham gia bán hàng qua dịch vụ trực tuyến của tập đoàn này. Một yếu tố nữa khiến nhu cầu nhân lực TMĐT tăng cao là tỷ lệ sử dụng internet tại Việt Nam tăng trưởng rất nhanh.

Trên thực tế, các DN tìm kiếm ứng viên chuyên về TMĐT đang tăng mạnh. Vào Google, gõ cụm từ “nhân viên bán hàng online”, chỉ trong vòng 0,14 giây sẽ hiện lên 18,3 triệu thông tin cần tuyển nhân viên bán hàng trực tuyến của các DN. Trên rất nhiều trang tìm việc trực tuyến như vietnamworks.com, timviecnhanh.com, jobs.vn, chonviec.com, careerlink.vn..., các thông tin tìm kiếm chuyên viên về TMĐT đăng tải khá nhiều. 

Mới đây, Zalora Việt Nam, một công ty chuyên bán hàng thời trang trên mạng cũng đã rao tuyển một lượng lớn lao động, từ quản lý, điều hành, xuất nhập khẩu cho đến bán hàng, kinh doanh mạng lưới... Chưa biết chất lượng nhân sự cần tuyển của DN này thế nào, nhưng nhìn vào số lượng tuyển dụng đến vài trăm nhân viên cũng đã thấy sức hút nhân lực của ngành bán hàng online.


Theo các chuyên gia, nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực TMĐT sẽ tiếp tục phát triển trong thời gian tới. Trong chiến lược phát triển, Chính phủ đã chọn phát triển nguồn nhân lực TMĐT là một trong những ưu tiên.

Sở Công Thương các tỉnh - thành đã và đang thực hiện kế hoạch 5 năm phát triển nguồn nhân lực TMĐT với nhiều hoạt động dành cho DN, như đầu tư trang thiết bị, phần mềm, tuyên truyền, đào tạo, tổ chức các chuyến tham quan học tập...

Bên cạnh những tín hiệu khả quan về nhu cầu thị trường, chính sách của Chính phủ, nguồn lao động trẻ nhanh nhạy trong các lĩnh vực công nghệ thông tin cũng là một yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của nguồn nhân lực TMĐT.

Nhiều thách thức

Nhu cầu đang tăng cao nhưng vấn đề đào tạo lại là một thách thức lớn cho ngành này. Theo kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn 2011-2015, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đặt mục tiêu 80% DN có trang thông tin điện tử, cập nhật thường xuyên thông tin hoạt động và quảng bá sản phẩm của DN. Nhưng để thực hiện được điều này, mỗi DN cần ít nhất một kỹ thuật viên TMĐT.

Như vậy, đến năm 2015, để phục vụ cho hoạt động cho DN cũng như đáp ứng được nhu cầu phát triển TMĐT, cả nước cần phải có khoảng 374.640 kỹ thuật viên. Với tình hình đào tạo của nước ta thì mức cung không đủ để đáp ứng nhu cầu của thị trường tuyển dụng. 

PGS-TS. Đoàn Thị Mỹ Hạnh, Hiệu trưởng Trường Đại học Mở TP.HCM, trong một cuộc hội thảo bàn về việc đào tạo nhân lực TMĐT gần đây, cho biết, hiện nay, cả nước chỉ có hai trường mở chuyên ngành TMĐT, các trường khác chỉ dạy môn TMĐT trong hệ thống các môn học của ngành kinh tế. Với thực trạng đào tạo này, số lượng nhân lực chuyên về TMĐT trong cả nước chỉ có thể đáp ứng 0,1% nhu cầu.

Cùng nhận định này, ông Nguyễn Sỹ Dũng, Trưởng Khoa TMĐT, Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ công thương Trung ương, nói thêm: “Nguồn nhân lực cho TMĐT hiện nay không những thiếu về số lượng mà còn cả về chất lượng. Sinh viên ra trường có kỹ năng về TMĐT nhưng kiến thức, kinh nghiệm về giao thương hay trình độ ngoại ngữ còn yếu và chưa thể đáp ứng ngay được nhu cầu của các DN”.


Trước thực trạng thiếu nguồn cung lao động trong ngành TMĐT chất lượng cao, để nâng cao chất lượng đầu ra của sinh viên, hằng năm, Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ công thương Trung ương phải đưa sinh viên thực tập tại các DN là thành viên của các sàn TMĐT quốc tế như Alibaba.com.

Theo ông Dũng, đây là cách để sinh viên làm quen với môi trường giao thương thực tế cũng như tích lũy kinh nghiệm, đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của các DN.

Đánh giá về thực trạng nguồn nhân lực TMĐT tại Việt Nam, ông Vincent Wong, cho rằng, các DN đã có sự chuẩn bị nhất định cho việc khai thác kênh xúc tiến bán hàng đầy tiềm năng này, từ vốn đầu tư, cơ sở hạ tầng cho tới kế hoạch trung và dài hạn.

Tuy nhiên, một trong những vấn đề quan trọng đặt ra hiện nay là tìm kiếm nhân sự phù hợp có kiến thức và kỹ năng kinh doanh trực tuyến để có thể tiến hành giao dịch không những với các đối tác trong nước mà cả những đối tác nước ngoài vốn đã dày dạn kinh nghiệm giao thương TMĐT trên thị trường quốc tế.

Chỉ giải quyết ngắn hạn

Do thiếu nguồn cung nên dù các DN sẵn sàng dành ngân sách cho một vị trí chuyên về TMĐT hay marketing trực tuyến quốc tế, nhưng vẫn khó khăn trong việc tìm được ứng viên phù hợp. Để việc kinh doanh tiến triển, không còn cách nào khác là DN phải chọngiải pháp tạm thời là để các nhân sự hiện tại đảm nhiệm luôn các công việc này.

Ông Nguyễn Thanh Lê, Giám đốc Công ty Thanh Lê, cho biết, trong hai năm qua, công ty tuyển dụng cho vị trí nhân viên bán hàng qua mạng nhưng vẫn chưa tìm được người ứng ý. Yêu cầu của công ty là nhân viênphải biết lên kế hoạch, thực hiện kế hoạch marketing online cho website bán hàng trực tuyến; chăm sóc và phát triển fan page tại các trang mạng xã hội; tìm kiếm hợp đồng online.


Và một tiêu chuẩn không thể thiếu nữa là rành về công nghệ thông tin để có thể khắc phục sự cố hệ thống mạng máy tính. Chính vì vậy, Thanh Lê phải cho nhân viên bán hàng học thêm các khóa về CNTT.

Ở một khía cạnh khác, ông Nguyễn Văn Nhân, Giám đốc Điều hành Công ty Nhân Minh, chủ thương hiệu Qcoffee xuất khẩu, cho rằng, để làm tốt công tác bán hàng online ra nước ngoài, những người chuyên trách công việc này không chỉ cần thông thạovề ngoại ngữ để giao dịch trực tuyến với các đối tác mà còn phải hiểu biết về các thị trường tiềm năng và kinh nghiệm giao thương quốc tế.

Bên cạnh đó, kiến thức về dịch vụ sau bán hàng cũng là yếu tố không thể thiếu. Yêu cầu cao, số lượng không đáp ứng được nên các DN thường chọn cách bố trí nhân lực kiêm nhiệm hoặc cử các cán bộ hiện có đi đào tạo bổ sung các kiến thức về ứng dụng TMĐT. 

Trước thực trạng này, một mặt các Sở Công Thương hỗ trợ DN trong việc đào tạo nguồn nhân lực, mặt khác, xây dựng và triển khai kế hoạch đào tạo về TMĐT dành cho DN. Bên cạnh đó, các tổ chức, công ty thuộc lĩnh vực có liên quan cũng thường xuyên tổ chức những buổi tư vấn, đào tạo nhằm cung cấp những kinh nghiệm, kỹ năng hoạt động trong lĩnh vực TMĐT nói chung và trên các sàn TMĐT dành cho DN nói riêng. 

Ông Trần Đình Toản, Phó tổng giám đốc Công ty OSB - đại lý ủy quyền chính thức của Alibaba.com tại Việt Nam, cho biết, để hỗ trợ các DN xuất khẩu Việt Nam tham gia có hiệu quả trên Alibaba. com, hằng tháng, Công ty OSB đều tổ chức các chương trình đào tạo, tư vấn trực tiếp và trực tuyến cho các DN xuất khẩu.

Bên cạnh đó, Công ty còn nhận sinh viên thực tập từ các chuyên ngành liên quan xuất nhập khẩu, TMĐT, công nghệ thông tin từ các trường đại học ở Hà Nội và TP.HCM. Ngoài ra, Công ty cũng đang tham gia biên soạn giáo trình TMĐT cho Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ công thương Trung ương và nhận sinh viên thực tập từ trường này.

Sinh viên thực tập sẽ được trang bị kiến thức, kỹ năng thực tế ứng dụng các kênh xúc tiến xuất khẩu online. Dù đã có nhiều hình thức được triển khai, nhưng theo ông Toản, để giải quyết bài toán thiếu hụt nguồn nhân lực trong việc ứng dụng TMĐT của DN, cần phải có sự góp sức của các bên tham gia.

Bên cạnh việc đẩy mạnh đào tạo tại các cơ sở đào tạo thì các chương trình đào tạo ngắn hạn, bổ sung mang tính thực tế phù hợp với nhu cầu của các DN cần được khai thác triệt để.

Theo DNSG (Thanh Thanh - Hồng Nga)
[Marketing3k.vn] Lương, sếp, môi trường làm việc và chế độ phát triển nhân tài, trong 4 lý do này, đâu là lý do quan trọng nhất khiến nhân tài rời bỏ doanh nghiệp?

Bà Nguyễn Thị Vân Anh, Giám đốc Khu vực kiêm Giám đốc chi nhánh Navigos Group Việt Nam tại Hà Nội, trả lời câu hỏi tại sao nhân tài rời bỏ công ty bằng con số: 75% nhân viên nghỉ việc là do bất đồng với sếp.
Mặc dù “sếp” ở đây là để chỉ các cấp quản lý nói chung chứ không chỉ là cấp lãnh đạo cao nhất, nhưng con số này khiến hơn 70% khách tham dự là chủ công ty, tổng giám đốc tham gia buổi Tọa đàm Ăn trưa cùng doanh nhân mang tên “4 sai lầm lớn khiến doanh nghiệp mất người tài” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào ngày 31.3.2010, không khỏi chạnh lòng. “Nếu đúng như vậy thì đây thực sự là bài học thấm thía cho chúng ta”, ông Nguyễn Đình Trường, Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty May Việt Tiến, bày tỏ.

Đi tìm chân dung nhân tài

Trước khi bàn chuyện làm gì để giữ chân người tài, hãy xem người tài là gì. Dù xác định đối tượng chính của Tọa đàm là người tài, nhưng qua những lăng kính khác nhau của các chủ doanh nghiệp, chân dung người tài không hề có chung một nét vẽ.

Có 2 cách định nghĩa người tài. Thứ nhất, người tài là người có năng lực xuất sắc trong lĩnh vực của mình. Như vậy, một công nhân giỏi cũng có thể được gọi là người tài. Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, hầu hết các chủ doanh nghiệp đồng ý rằng nhân tài là người có năng lực chuyên môn cũng như năng lực lãnh đạo để có thể gánh vác những vị trí quản lý quan trọng.

Bà Nguyễn Thị Phượng Anh, Giám đốc Điều hành Công ty International Sales Management (ISM), Cựu Giám đốc Nguồn nhân lực Công ty P&G Việt Nam, chia sẻ kinh nghiệm nhận diện người tài theo 2 cấp độ. “Thứ nhất, họ phải đạt được kết quả tốt trong công việc được giao. Thứ hai, họ phải có kỹ năng lãnh đạo nhóm”, bà nói.

Đây là những tiêu chuẩn quan trọng trong mô hình nhận diện người tài của P&G, cũng như của hầu hết các công ty đa quốc gia. Trong đó, kết quả công việc của nhân viên có thể được đánh giá trong một khoảng thời gian nhất định. Còn kỹ năng lãnh đạo nhóm sẽ được căn cứ vào 4 tiêu chí: khả năng tự lãnh đạo bản thân và lãnh đạo đội nhóm; khả năng học hỏi; năng lực làm việc và thời gian làm việc.

Rõ ràng, vạch ra các phẩm chất, năng lực mà doanh nghiệp mong muốn ở nhân tài chính là bước đầu tiên để nhận ra họ. Song, những tiêu chuẩn này không thể áp dụng chung ở mọi doanh nghiệp. Đó là lý do ông Nguyễn Ngọc Anh Tuấn, Phó Tổng Giám đốc Nguồn Nhân lực, Công ty Cổ phần Sản xuất Hàng Gia dụng Quốc tế ICP, nhấn mạnh đến tính phù hợp khi tìm kiếm người tài. Ở ICP, ông Tuấn cho rằng, bên cạnh các tiêu chuẩn nói trên thì sự cam kết và có cùng mục tiêu phát triển với doanh nghiệp mới quyết định nhân tài có gắn bó lâu dài hay không.

Nhân tài: Bao nhiêu là đủ?

Nhận diện được người tài không dễ, nhưng phát triển họ còn khó hơn. Và nếu như cách nhận diện người tài ở công ty đa quốc gia và doanh nghiệp Việt Nam hầu như tương đồng thì trên khía cạnh phát triển người tài lại có sự khác biệt khá rõ rệt.

P&G, cũng như nhiều công ty đa quốc gia khác, đã có những hệ thống phát triển nhân tài khá hoàn chỉnh. “Vẫn dựa vào các tiêu chuẩn đặt ra ở trên, nhân viên đạt được đến cấp độ nào thì sẽ được đào tạo tiếp và cất nhắc lên những vị trí tiếp theo”, bà Phượng Anh, Công ty ISM, cho biết. Tuy nhiên, mô hình này hầu như chỉ thích hợp với các công ty lớn, có quy trình hoạt động khép kín và ổn định. Theo đó, người tài chủ yếu là các cấp quản lý trung gian, sẽ góp phần làm mạnh hơn hệ thống, nhưng không có nghĩa hệ thống sẽ suy yếu nếu họ ra đi. Trên thực tế, vị trí lãnh đạo trung gian ở Coca-Cola, Pepsi, P&G… dao động khá mạnh nhưng mức tăng trưởng và doanh số của các tập đoàn này vẫn được đảm bảo.

Trong khi đó, đối với công ty Việt Nam, hầu hết có xuất phát điểm thấp và đang phát triển với tốc độ rất nhanh thì sự phụ thuộc vào một hay một nhóm người tài là rất lớn. Vì vậy, thành hay bại trong việc phát triển người tài cũng dễ dàng dẫn đến sự thành bại của công ty.

Ông Tuấn, Công ty ICP (công ty Việt Nam trong ngành hàng hóa mỹ phẩm, thực phẩm), người từng kinh qua vị trí quản lý tại các doanh nghiệp nước ngoài như Ajinomoto, Nestlé, đã chia sẻ kế hoạch phát triển nhân sự mà ông đang áp dụng tại ICP. Đây có thể là một tham chiếu gần gũi đối với các công ty Việt Nam đang trên đà phát triển.

Các công ty phát triển nhanh tất yếu sẽ “khát” nhân sự ở tất cả các phòng ban, cấp bậc, vì thế cần phải có nhân tài làm nòng cốt ở tất cả các cấp, chứ không riêng vị trí quản lý. Do đó, việc phát triển nhân tài của ICP không thể thiếu công đoạn mà ông Tuấn gọi là phân loại người tài. Theo đó, ICP phân chia nhân tài theo từng cấp: nhân viên tiềm năng, nhóm quản lý tiềm năng và nhân sự quản lý chủ chốt. Từ cách phân loại này, doanh nghiệp có thể chọn ra được một lực lượng người tài làm hạt nhân trong từng phòng ban.

Tuy nhiên, để đáp ứng cho tham vọng phát triển nhanh của doanh nghiệp Việt Nam, nhu cầu tìm kiếm người tài dường như không có giới hạn.

Có một bộ máy nhân sự toàn nhân tài là lý tưởng mà doanh nghiệp nào cũng mong muốn, nhưng có lẽ chỉ các tập đoàn đa quốc gia với vốn lớn, thương hiệu tốt mới đủ lực biến lý tưởng này thành hiện thực. Cấu trúc nhân sự với rất nhiều nhân tài như vậy được ông Tuấn, Công ty ICP, gọi là cấu trúc đặc.

Bị giới hạn về chi phí lẫn thương hiệu trong việc cạnh tranh giành nhân tài với các công ty đa quốc gia, doanh nghiệp Việt Nam phải giải bài toán nhân tài như thế nào? Ông Tuấn không ngại chia sẻ mô hình cấu trúc tinh thể mà ICP đang áp dụng. Khác với cấu trúc đặc, cấu trúc tinh thể là cấu trúc chỉ dùng một số nhân tài làm nòng cốt trong một phòng ban. Họ sẽ là mấu chốt kết nối các nguồn lực của cả bộ phận. “Bạn không nhất thiết, cũng như không đủ chi phí, để có tất cả người tài trong một phòng ban. Một tổ chức chỉ cần 30-50% nhân tài là đủ”, ông nói. Ông Tuấn tiết lộ, ông có công thức riêng để tính toán một cách định lượng bao nhiêu nhân tài là đủ cho một phòng ban, trong từng giai đoạn phát triển khác nhau của doanh nghiệp. Tuy nhiên, ông từ chối chia sẻ cụ thể hơn công thức này.

Bên cạnh đó, ông cũng nhấn mạnh một khâu quan trọng trong phát triển nhân sự, đó là hoạch định người tài. Đây là bước đầu tiên của quá trình phát triển họ. Việc hoạch định người tài phải được đặt song song với chiến lược phát triển của doanh nghiệp và trách nhiệm này thuộc về người lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp, chứ không phải riêng bộ phận quản lý nguồn nhân lực. Ở công đoạn này, ông Tuấn nhấn mạnh tính đồng bộ và tính dự báo. Nghĩa là doanh nghiệp phải vạch ra được chiến lược phát triển công ty bền vững, ít thay đổi, ít nhất trong 5 năm. Có như vậy kế hoạch phát triển người tài mới được thực hiện một cách ổn định và hiệu quả. “Muốn giữ được người tài không có cách nào tốt hơn là làm cho họ thành công cùng với doanh nghiệp”, ông kết luận.

Ngoài các doanh nghiệp lớn, đang trên đà phát triển, buổi Tọa đàm “Biến động nhân sự - 4 sai lầm lớn khiến doanh nghiệp mất người tài” cũng thu hút khá nhiều người chủ của các doanh nghiệp mới thành lập. Và tìm kiếm nhân tài để đi cùng họ trong những ngày đầu khởi nghiệp là bài toán đau đầu của các doanh nghiệp mới.

Bà chủ của Công ty Đồng Xanh, một công ty cung cấp dịch vụ xử lý môi trường tại Biên Hòa, trăn trở: “Đối với công ty mới người tài thật khó kiếm. Tôi cần nhiều người giỏi ngang bằng, thậm chí là hơn mình, để cùng phát triển công ty”.

Khúc mắt của bà chủ này đã được một diễn giả của buổi Tọa đàm là ông Huỳnh Minh Quân, Tổng Giám đốc NhanViet Management Group, chia sẻ với tư cách là người… cùng cảnh ngộ. Ông cho biết, dù sở hữu một công ty tư vấn nhân sự nhưng ông cũng không khỏi đau đầu với bài toán tìm người giỏi để cùng gánh vác công việc. Ông cho rằng, tìm được người giỏi, đủ sức thay thế để mình có thể tập trung cho việc hoạch định chiến lược phát triển công ty, mở rộng mối quan hệ, thậm chí là yên tâm đi du lịch vài ba tháng mà công việc ở nhà “vẫn chạy tốt” là ước mơ của mọi ông chủ. Song, điều này, theo ông Quân, chỉ là lý tưởng mà thôi! “Tìm được người tài đủ để làm được điều này lắm lúc cũng cần may mắn. Các ông chủ cũng đừng quá kỳ vọng vào việc tìm kiếm người tài giỏi hơn mình. Vì ông chủ phải là người giỏi nhất”, ông nói.

Tuy nhiên, ông Quân đã gợi ý một giải pháp đối với các doanh nghiệp mới thành lập mà khá nhiều chủ doanh nghiệp có mặt tại buổi Tọa đàm tỏ ra tâm đắc. Đó là kêu gọi cổ đông góp vốn là những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh của công ty. Họ là nguồn nhân tài cùng đi với doanh nghiệp, chia sẻ cả vốn lẫn chất xám.

Để sếp không là "kẻ hủy diệt" nhân tài

Trở lại với câu chuyện giữ chân người tài, sau khi đã nhận diện và phát triển họ. Chủ doanh nghiệp mất gì nếu người tài ra đi?

Bà Vân Anh, Công ty Navigos, cho biết, chi phí thay thế một nhân viên thường bằng 2,5 lần lương của nhân viên đó. Đó là chưa kể sự ra đi của họ còn kéo theo việc doanh nghiệp mất khách hàng, mất các mối quan hệ, mất thời gian tuyển dụng và đào tạo người thay thế.

Vì sợ những tổn thất này mà không ít chủ doanh nghiệp “khóa chân” người tài bằng các biện pháp cưỡng chế như giữ bằng đại học, giữ lại tiền lương, thưởng hoặc “khống chế” bằng các hợp đồng đào tạo và yên tâm rằng nhân tài sẽ ở lại với họ. Tuy nhiên, đáng tiếc là thực tế lại không diễn ra như vậy.

75% nhân viên nghỉ việc vì không thể hòa hợp với cấp lãnh đạo. Con số này đã gây ra khá nhiều tranh cãi tại buổi Tọa đàm. Bà Huỳnh Thị Ngọc Trúc, Giám đốc Quản lý Nguồn Nhân lực, Ngân hàng HSBC, đồng tình với con số này. Dựa trên thông tin thu thập được từ các cuộc phỏng vấn nhân viên trước khi nghỉ việc, bà Trúc cho biết: “Họ thường đổ lỗi cho sếp”.

Tuy nhiên, ông Tuấn, Công ty ICP, dẫn ra một con số khác, mà ông tham khảo được từ các khảo sát của Salary.com, trang web về nhân sự và tiền lương uy tín trên thế giới, bất đồng với sếp chỉ chiếm 13% lý do nghỉ việc. Có vẻ như con số này được nhiều chủ doanh nghiệp đồng tình hơn!

Song, dù là 75% hay 13% thì bất đồng với sếp vẫn là nguyên nhân quan trọng khiến doanh nghiệp mất người tài. Cũng từ các cuộc phỏng vấn nhân viên trước khi nghỉ việc, bà Phượng Anh, Công ty ISM, đã nhận ra một số mâu thuẫn chủ yếu từ cả hai phía. Thứ nhất, sếp và nhân viên không hiểu rõ mục tiêu của nhau. Thứ hai, nhân viên không nhận được phản hồi một cách tức thời từ phía sếp về những mặt hạn chế của họ để nhanh chóng sửa chữa. Điều này nhen nhóm mối bất hòa âm ỉ giữa sếp với nhân viên, trong lúc hiệu quả công việc lại không được cải thiện. Thứ ba, nhân viên ít nhận được lời khen từ sếp, họ cảm thấy thiếu sự động viên, nảy sinh tâm lý so sánh với các sếp ở những công ty khác. Thứ tư, nhân viên và sếp không cùng chí hướng, trong lúc họ nỗ lực làm việc thì sếp lại không nỗ lực cùng họ. Ngoài ra, còn có những lý do khác như nhân viên cho rằng sếp không đánh giá đúng năng lực của họ hoặc họ không “nể” sếp, quan điểm, phong cách làm việc khác biệt... Những bất đồng này, tựu trung đều xuất phát từ nguyên nhân gốc rễ là thiếu sự phản hồi.

Một khách tham dự Tọa đàm là giảng viên trường đào tạo chuyên ngành nhân sự, đồng thời là chủ tịch một hiệp hội nhân sự, đề cập nhiều hơn đến lỗ hổng trong giao tiếp giữa cấp quản lý và nhân viên. Ông cho rằng, bản thân các cấp quản lý cần rèn luyện khả năng, nghệ thuật giao tiếp với nhân viên, ngay cả trong cách khen, chê họ. “Những bất mãn của nhân viên đều xoay quanh điều sếp nói, cách sếp làm”, ông nói.

Theo NCĐT
[Marketing3k.vn] Bất kỳ tổ chức nào cũng cần những nhân viên phù hợp với giá trị văn hóa của tổ chức đó. Giá trị văn hóa ở đây có thể hiểu là những nguyên tắc xác định bạn là ai trong tổ chức và ảnh hưởng tới các quyết định và công việc hàng ngày.

Alan Lewis là chủ sở hữu và Chủ tịch Tập đoàn Grand Circle, công ty du lịch quốc tế lớn nhất Mỹ cho các người Mỹ lớn tuổi. Bài viết của ông chia sẻ những kinh nghiệm tuyển chọn nhân sự phù hợp với giá trị văn hóa của tổ chức và tầm quan trọng của văn hóa tổ chức với sự phát triển lâu dài của công ty

Không công ty nào có quy trình tuyển dụng như nhau. Những công ty công nghệ không yêu cầu lập trình viên phải có kỹ năng giảng dạy, nhưng đó là điều đầu tiên người hiệu trưởng yêu cầu ở một giáo viên. Vì vậy, bạn cần có các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá liệu một ứng viên có năng lực cần thiết để thành công ở vị trí ứng tuyển hay không.

Nhưng chỉ năng lực thôi chưa đủ. Bất kỳ tổ chức nào cũng cần những nhân viên phù hợp với giá trị văn hóa của tổ chức đó. Giá trị văn hóa ở đây có thể hiểu là những nguyên tắc xác định bạn là ai trong tổ chức và ảnh hưởng tới các quyết định và công việc hàng ngày. Những nhân viên không chia sẻ văn hóa của tổ chức sẽ làm loãng giá trị văn hóa và cản trở tổ chức đạt được mục tiêu của mình. Theo quan điểm của tôi, mọi tổ chức đều phải lựa chọn những ứng viên phù hợp nhất về văn hóa.

Giống như nhiều giám đốc điều hành, tôi thấy rằng sự gắn bó với văn hóa và các giá trị của công ty quan trọng hơn nhiều so với năng lực hay kinh nghiệm. Trong đa số trường hợp nếu ứng viên chia sẻ những giá trị của công ty thì chúng tôi có thể đào tạo để nâng cao năng lực.

Chính vì vậy, từ hơn một thập kỷ trước, chúng tôi đã sử dụng một quy trình tuyển dụng dựa trên giá trị. Quyết định đó đã không chỉ nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng, mà còn góp phần vào sự thành công lâu dài của các nhân viên và bản thân của tổ chức chúng tôi.

Phỏng vấn để đánh giá về các giá trị nghe có vẻ không đơn giản, nhưng các tổ chức và nhà quản lý tuyển dụng có thể dễ dàng áp dụng. Dưới đây là một số kinh nghiệm xây dựng quá trình tuyển dụng dựa trên giá trị tại công ty của chúng tôi.

Đừng chỉ yêu cầu các ứng viên mô tả họ phù hợp với những giá trị của công ty bạn như thế nào; hãy để họ cho bạn thấy bằng hành động

Bạn có thể hiểu được nhiều điều hơn về một ứng viên bằng cách quan sát ứng viên đó giao tiếp với các ứng viên và các nhân viên khác như thế nào. Tại Grand Circle, quy trình tuyển dụng bao gồm cuộc phỏng vấn nhóm, các ứng viên cho các công việc khác nhau được phỏng vấn cùng một lúc. Chúng tôi quan sát các ứng viên xử lý những tình huống độc đáo và phức tạp, cũng như cách họ giao tiếp với nhau. Dựa vào đó chúng tôi đánh giá liệu họ có hợp với các giá trị của chúng tôi hay không ­- giao tiếp cởi mở và dũng cảm, chấp nhận rủi ro, tốc độ, chất lượng, làm việc theo nhóm và thành công trong môi trường thường xuyên thay đổi.

Ví dụ, để kiểm tra khả năng chấp nhận rủi ro các ứng viên sẽ vào vai xử lý tình huống trong đó một đồng nghiệp phải đi công tác ngoài thành phố và cần một đồng nghiệp ít kinh nghiệm hơn thay thế cho một buổi thuyết trình quan trọng.

Chúng tôi cũng mời các ứng viên tham gia trò "thả trứng", trong trò này họ phải làm việc theo nhóm để thiết kế một chiếc tàu du lịch cho quả trứng (mà chỉ sử dụng ống hút và băng), phát triển một bài thuyết trình tiếp thị để "bán" chuyến du lịch đó, rồi thả chiếc tàu từ khoảng 3m. Từ bài tập này, chúng tôi có thể nhanh chóng phát hiện ứng viên nào thể hiện phẩm chất lãnh đạo và khả năng làm theo nhóm, ai thực hiện tốt trong các tình huống bất thường, và ai đã nghiên cứu trước về công ty.

Hãy thẳng thắn về văn hóa và các giá trị của bạn

Bạn không muốn thuê một người mà chắc chắn sẽ không được việc, lãng phí thời gian và năng lượng của họ (và của bạn). Thẳng thắn là cách tốt nhất để tránh điều đó. Các ứng viên sẽ tự ra đi nếu họ cảm thấy không thể hợp với văn hóa của bạn. Chúng tôi đã chứng kiến điều đó nhiều lần - như trong trường hợp một người đàn ông nói bài "thả trứng" của chúng tôi là "thực sự kỳ quái", hay trường hợp khác một người phụ nữ đã tuyên bố cô không muốn tham gia "văn hóa kumbaya"[1] của chúng tôi.

Tốt nhất là loại ra những người như vậy ngay từ buổi phỏng vấn hơn là để họ khó chịu với các giá trị của công ty ngay từ tháng làm việc đầu tiên.

Không nên kết hợp cuộc phỏng vấn năng lực với phỏng vấn giá trị

Khi các giá trị được đánh giá trong một cuộc phỏng vấn riêng, bạn sẽ có cơ hội phát hiện nhiều điều mà bạn sẽ bỏ lỡ nếu phỏng vấn chung năng lực và văn hóa. Một trong những nhân viên trẻ xuất sắc trong tổ chức chúng tôi đã tới phỏng vấn hầu như không có kinh nghiêm liên quan tới công việc - điều không có lợi cho anh ta nếu như chúng tôi chỉ tập trung đánh giá về năng lực, nhưng anh ta đã thể hiện một tham vọng và khả năng lãnh đạo tốt đến nỗi chúng tôi đã phải vội vàng thuê anh ta ngay lập tức.

Thuê được những nhân viên phù hợp về văn hóa là cách tốt nhất đảm bảo sự thành công lâu dài cho công ty của bạn. Sự gắn bó với công ty sẽ cao hơn (43% nhân viên của chúng tôi đã làm ở đây từ 5 năm trở lên), các nhân viên tham gia công việc tốt hơn, và các mối quan hệ với khách hàng sâu sắc hơn.

Bạn có nghĩ rằng, cần phải nhìn xa hơn năng lực để thấy được điều quan trọng hơn cả chính là các giá trị của công ty bạn?
--------------------------
[1] Kumbaya là một bài hát dân gian rất thịnh hành ở Mỹ từ những năm đầu thế kỷ XX. Bài hát thể hiện sự gắn bó, gần gũi về tâm hồn cũng như cách sống của một nhóm người. Vì vậy tên bài hát thường cũng được sử dụng để chỉ sự thân mật, đoàn kết, thân thiện trong các tổ chức và tập thể.

Theo VeF - Lê Anh Tuấn (lược dịch từ HARVARD BUSINESS REVIEW)

Thành công hôm nay không bảo đảm cho bạn
thành công tương tự trong tương lai.
[Marketing3k.vn] Thử nhìn lại những doanh nghiệp thành công với những ý tưởng đột phá trong thập kỷ vừa qua: Google, Netflix, Skype. Bây giờ hãy tự hỏi, vì sao không phải là Microsoft tạo ra Google? Blockbuster tạo ra Netflix? Hay AT & T tạo ra Skype?

Vì sao những doanh nghiệp lớn với kinh nghiệm lâu năm trên thương trường lại gặp nhiều khó khăn trong việc sáng tạo mô hình kinh doanh mới, và thường để mất những thị trường mới vào tay những đối thủ cạnh tranh mới và nhỏ hơn?

Chúng tôi cho rằng nguyên nhân chính là vì nhiều công ty quá tập trung vào điều hành mô hình kinh doanh hiện tại của mình và quên mất rằng không mô hình kinh doanh nào sống mãi. Thành công hôm nay không bảo đảm cho bạn thành công tương tự trong tương lai.

Hãy thực hiện một thử nghiệm nhỏ sau đây. Liệt kê những hoạt động chính hiện tại của doanh nghiệp bạn, và hình dung về những yếu tố, áp lực thay đổi trong ngành công nghiệp của bạn: công nghệ, khách hàng, phân bố địa lý, những luật lệ, chính sách, tiêu chuẩn, toàn cầu hóa v.v. Trên cơ sở đó, hãy phân loại những hoạt động chính của doanh nghiệp bạn theo 3 loại hình: Điều hành công việc hiện tại, Rời bỏ quá khứ một cách chọn lọc và Xây dựng tương lai.

Loại hình thứ nhất bao gồm những hoạt động quản lý và nâng cao hiệu suất những hoạt động hiện tại. Loại hình thứ hai bao gồm những hoạt động nhằm rời bỏ những gì không còn giá trị, ví dụ như rời khỏi những thị trường không còn phát triển, những sản phẩm không còn nhu cầu cao. Cuối cùng, loại hình thứ ba bao gồm những công việc chuẩn bị cho doanh nghiệp bạn tiếp tục phát triển trong tương lai.

Những công ty phát triển lâu dài và bền vững cần duy trì sự cân bằng những hoạt động của mình ở cả 3 khía cạnh kể trên. Và một trong những vai trò quan trọng nhất của CEO là tạo dựng và duy trì sự cân bằng này. Rất nhiều công ty quá chú trọng vào hiện tại. Đối với họ, những yếu tổ hiển hiện, dễ thấy đóng vai trò chủ đạo, những yếu tố tiềm ẩn đối với hoạt động lâu dài của công ty thường bị bỏ quên.

Hiển nhiên những hoạt động bảo đảm công việc kinh doanh hiện tại là quan trọng và cần sự tham gia thường xuyên của CEO. Những hoạt động này tập trung vào hiệu quả công việc hàng ngày cũng như đưa ra những cải tiến cần thiết. Tuy nhiên trách nhiệm của CEO không chỉ có ở một khía cạnh hiện tại. Họ phải dành sự quan tâm đúng mức đến cả quá khứ và tương lai.

Rời bỏ quá khứ, thứ nhất, bao gồm những công việc nhận định và rời bỏ những thị trường, những sản phẩm không còn giá trị đối với công ty, nhằm tập trung nguồn lực của công ty cho những hoạt động quan trọng hơn. Ví dụ, những năm 80 thế kỷ trước, khi sản phẩm những công ty Nhật sản xuất bộ nhớ (RAM) giá rẻ tràn ngập thị trường Mỹ, Andy Grove, CEO lúc bấy giờ của Intel, đã chuyển hướng công ty sang thị trường sản xuất bộ vi xử lý.

Tuy nhiên còn một khía cạnh khác khó nhận thấy của quá khứ: Văn hóa doanh nghiệp. Khi công ty hình thành và phát triển nhiều năm, những giá trị, văn hóa, những lề lối và cách thức làm việc được hình thành và phổ biến rộng rãi trong công ty và có tác động không nhỏ đến quá trình ra quyết định, lên kế hoạch và thực thi trong công ty.

Chúng tôi không phủ nhận rằng văn hóa doanh nghiệp là một khía cạnh cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển của bất kỳ công ty nào, nhưng nếu lạm dụng quá mức, nó sẽ trở thành trở ngại không nhỏ cho công ty trong việc tự thay đổi và thích nghi với thị trường. Chính vì lý do đó, những hoạt động xây dựng tương lai cho công ty thường phải bắt đầu từ văn hóa doanh nghiệp. Để xây dựng và phát triển, chúng ta cần bỏ qua một cách chọn lọc những gì đã hình thành.

Chúng ta có thể lấy ví dụ trường hợp công ty Infosys Technologies Limited, Ấn Độ, để cùng xem xét CEO có thể cân bằng những hoạt động theo 3 khía cạnh Hiện tại, Quá khứ và Tương lai như thế nào.

Sự chuyển đổi mô hình kinh doanh tại Infosys

Ngày 31/7/2006, Infosys tổ chức lễ mừng 25 năm thành lập công ty. Infosys là một trong những ví dụ điển hình thúc đẩy Thomas Friedman viết quyển Thế giới phẳng: công ty đã chứng tỏ dịch vụ phát triển phần mềm cho doanh nghiệp không nhất thiết phải được tiến hành ngay tại doanh nghiệp khách hàng, mà ngược lại, phần lớn những công việc có thể được thực hiện tại những nơi xa hàng ngàn km tại India, đất nước với nguồn nhân lực dồi dào và giá nhân lực lại thấp. Infosys gọi cách tiếp cận này "mô hình phân bố toàn cầu".

Những năm 1980, Infosys chỉ là một công ty nhỏ với một nhóm lập trình viên bay từ Ấn Độ sang Mỹ để tìm kiếm khách hàng. Nhưng trong những năm 1990, việc chính phủ Ấn Độ nới lỏng kiểm soát kinh doanh và sự phát triển mạnh mẽ của Internet đã tạo điều kiện cho sự phát triển thần kỳ của Infosys thành một công ty trị giá 5 tỷ đô với hơn 100 000 nhân viên.

Trong những năm 1990, với những thành công vượt bậc như vậy, lẽ ra Infosys đã có thể hoàn toàn tập trung vào điều hành, cải tiến công việc kinh doanh hiện tại. Tuy nhiên, Murthy, Chủ tịch Infosys, đã đặt mục tiêu trở thành đối thủ ngang tầm với những công ty lớn nhất trong ngành dịch vụ công nghệ thông tin, như IBM, Accenture. Murthy và Nandan Nilekani, CEO lúc bấy giờ, có một cách nhìn chung về tương lai của ngành công nghiệp này.

Những khách hàng lớn của công ty thường phàn nàn về những khó khăn phải làm việc cùng lúc với nhiều nhà cung cấp, trong khi đó không có nhà cung cấp nào chịu trách nhiệm cho toàn bộ công việc chung. Từ đó, Murthy và Nilekani tin tưởng rằng thị trường sẽ có nhu cầu thuê một công ty chịu trách nhiệm cung cấp và quản lý dịch vụ trọn gói: tư vấn hệ thống, tư vấn quy trình, viết phần mềm, cài đặt, kiểm định, triển khai, đào tạo, cũng như chịu trách nhiệm toàn bộ về cả phần cứng lẫn phần mềm. Thậm chí, công ty này còn có thể nhận thực hiện giúp khách hàng những công việc đơn giản, có quy trình định sẵn.

Hiện thực hóa nhận định này sẽ tạo nên sự chuyển biến lớn trong ngành công nghịêp dịch vụ công nghệ thông tin. Nếu nhiều công ty tiến đến mô hình này, những đối tác trước đây sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh. Infosys đã tập trung tạo dựng và phát triển rất nhiều loại hình dịch vụ mới, trong khi đó, vẫn duy trì những dịch vụ trước đó, và tiến tới tích hợp những dịch vụ này thành những dịch vụ trọn gói. Công ty đã phát triển gấp 25 lần, từ một công ty 200 triệu đô thành công ty 5 tỷ đô, là một trong những công ty lớn nhất trong thị trường dịch vụ công nghệ thông tin toàn cầu.

Trong phần tiếp theo của bài viết, chúng tôi sẽ phân tích kỹ những bước đi của Invensys phù hợp với 3 khía cạnh hoạt động: Hiện tại, Quá khứ và Tương lai như thế nào.

Theo VeF - GIANG SƠN (LƯỢC DỊCH TỪ HBR)
[Marketing3k.vn] Nền kinh tế khó khăn khiến những người có việc cảm thấy vui mừng ngay cả khi họ không yêu thích công việc đó. Tuy nhiên, bạn không nhất thiết phải chờ đến khi nền kinh tế hồi phục mới bắt đầu kế hoạch tìm kiếm công việc trong mơ của mình.

4 điều dưới đây sẽ giúp bạn lên kế hoạch sự nghiệp trong giai đoạn nền kinh tế khủng hoảng và tìm thấy công việc mình đam mê:

Mở rộng mạng lưới quan hệ

Ngày nay, những mạng lưới xã hội như Facebook,Twitter, Myspace, Linkedin... giúp bạn dễ dàng xây dựng và mở rộng mạng lưới quan hệ hơn bao giờ hết. Đừng chỉ kết bạn với người làm cùng công ty hay đối tác chuyên nghiệp, hãy mở rộng cả các mối quan hệ xã hội. Bạn không thể biết được người bạn cũ từ thời đại học hay người hàng xóm có thể mang đến cho bạn những cơ hội tuyệt vời ra sao. Hãy nhớ không phải vị trí tuyển dụng nào cũng được quảng cáo rầm rộ, rất nhiều công việc được giới thiệu theo kiểu " truyền miệng" cho nhau.


Tình nguyện cho tổ chức/ công ty mình quan tâm

Dù bạn đang có việc làm hay không, tình nguyện cho tổ chức/ công ty mình quan tâm sẽ giúp bạn mở rộng mối quan hệ, tận dụng các kỹ năng cũng như tích lũy những cái mới, theo đuổi cảm xúc và tìm kiếm công việc " trong mơ" của mình.

Bạn có thể làm việc tình nguyện không lương cho một công ty, cho cộng đồng hoặc tổ chức phi chính phủ. Có thể sau đó bạn sẽ được tuyển dụng bởi chính những tổ chức này. Và ngay cả khi điều đó không xảy ra, bạn cũng sẽ cảm thấy thoả mãn và hài lòng vì được làm những gì mình thích cũng như " làm mới" bản thân.

Đánh giá bản thân

Giờ là thời điểm thích hợp để đánh giá lại bản thân: tính cách, kỹ năng và năng lực nổi bật, quan điểm, ước mơ, và đam mê của bạn là gì? Hãy dành thời gian để nhìn nhận lại con người mình và những điều bạn muốn trong cuộc đời. Việc này sẽ hữu ích cho mọi khía cạnh cuộc sống, chứ không chỉ trong quá trình tìm việc.

Bắt đầu công việc kinh doanh riêng

Nếu bạn từng ước mơ một ngày nào đó sẽ có một công ty hay sự nghiệp kinh doanh riêng của mình, hãy cố gắng bắt đầu từ bây giờ, làm việc bán hay toàn thời gian. Chắn chắn sự khởi đầu sẽ không dễ dàng gì dù là nhỏ như cửa hàng bán lẻ, tư vấn, dịch vụ Internet, nấu ăn... nhưng bạn sẽ có nhiều sự trợ giúp, từ chính phủ đến bạn bè, người thân. Do đó, đừng trì hoãn thực hiện ước mơ của mình.

Dantri - Vũ Vũ Theo Ezinearticles
[Marketing4u.vn] Mọi doanh nghiệp đều muốn nhân viên của mình có niềm yêu thích say mê đối với công việc vì những nhân viên được truyền cảm hứng yêu nghề thì sẽ làm việc năng suất hơn, và niềm đam mê yêu thích có thể sẽ mang đến nguồn năng lượng cần thiết để làm tăng sự gắn bó với công việc dù cho có nhiều trở ngại, khó khăn. Trong thực tế, một số kiểu đam mê với công việc hết sức nguy hiểm và có hại.

Mọi doanh nghiệp đều muốn nhân viên của mình có niềm yêu thích say mê đối với công việc. Vì một lý do chính đáng đó là: những nhân viên được truyền cảm hứng yêu nghề thì sẽ làm việc năng suất hơn, và niềm đam mê yêu thích có thể sẽ mang đến nguồn năng lượng cần thiết để làm tăng sự gắn bó với công việc dù cho có nhiều trở ngại, khó khăn. Dường như niềm đam mê rõ ràng là điều luôn được ao ước, thì những nghiên cứu tâm lý gần đây lại đưa ra một nhận xét là không phải niềm đam mê công việc dưới tất cả các hình thức đều đem lại khả năng thích ứng tốt với mọi môi trường làm việc và giúp ích cho công việc. Trong thực tế, một số kiểu đam mê với công việc hết sức nguy hiểm và có hại.

Theo "Dạng thức kép của niềm đam mê" của Robert J.Vallerand, niềm đam mê công việc mang hai xu hướng đặc trưng đó là dung hòa và ám ảnh. Những người với niềm đam mê được dung hòa đến với công việc bởi công việc mang đến cho họ niềm vui thực sự. Họ có khả năng kiểm soát công việc, và công việc của họ luôn hài hòa với những hoạt động khác trong cuộc sống đời thường. Đồng thời, họ biết khi nào thì nên ngừng làm việc và sẵn sàng tạm ngừng công việc khi họ muốn tham gia hưởng thụ những thú vui khác hoặc biết dừng lại đúng lúc, bởi công việc nếu tiếp tục sẽ trở nên quá mạo hiểm. Kết quả là không xảy ra xung đột giữa công việc và những mảng hoạt động khác của cuộc sống. Ví dụ, khi họ đang dành thời gian thư giãn đi nghe hòa nhạc hoặc chơi đùa với con cái, họ sẽ tạm thời không nghĩ đến công việc. Và họ không cảm thấy tội lỗi khi họ không làm việc. Những phiếu câu hỏi điều tra niềm đam mê công việc được dung hòa nhận được những câu trả lời: "Công việc này cho tôi cơ hội phát huy những phẩm chất riêng biệt của bản thân mình mà tôi rất thích.", "Công việc này hài hòa với những hoạt động khác trong cuộc sống của tôi.", và "Đối với tôi, tôi vẫn có thể kiểm soát được niềm đam mê dành cho công việc của mình."

Niềm đam mê công việc một cách ám ảnh là một câu chuyện hoàn toàn khác. Giống như mọi người với niềm đam mê được dung hòa, những người với niềm đam mê ám ảnh cho rằng công việc của họ tượng trưng cho niềm đam mê đối với họ, và coi công việc có một giá trị rất lớn. Một sự khác biệt điển hình với niềm đam mê được dung hòa đó là họ cảm thấy một sự thúc giục phải luôn làm việc mà không thể cưỡng lại được. Kết quả là, họ cảm thấy không thể làm cân bằng hài hòa giữa niềm đam mê dành cho công việc và những hoạt động khác trong cuộc sống thường nhật. Những phiếu câu hỏi điều tra về niềm đam mê ám ảnh nhận được những câu trả lời: "Sự thúc giục rất mạnh mẽ. Tôi không thể tách mình ra khỏi công việc này." Và "Tâm trạng của tôi luôn phụ thuộc vào việc tôi có thể hoàn thành công việc này hay không."

Cả hai dạng của niềm đam mê gắn với những kết quả khác nhau. Niềm đam mê được dung hòa mang lại cho chúng ta một thể chất tốt hơn, một tâm lý thoải mái, lòng tự trọng, những cảm xúc tích cực, sự sáng tạo, sự tập trung, sự sáng khoải, sự hài lòng với công việc, và đem lại sự cân bằng hài hòa với các hoạt động khác trong cuộc sống. Những ảnh hưởng này sẽ tràn sang cả những lĩnh vực khác. Bởi vì con người với niềm đam mê hài hòa có thể chủ động rời khỏi công việc và dành thời gian trải nghiệm những phần khác của cuộc sống, họ luôn luôn thấy những ảnh hưởng tích cực.

Trái lại, những người với đam mê ám ảnh cho thấy mức độ chịu những ảnh hưởng tiêu cực qua thời gian cao hơn và thể hiện những biểu hiện kém thích ứng. Họ thấy mức độ chịu những ảnh hưởng tiêu cực trong và sau khi làm việc rất cao; họ khó có thể ngừng nghĩ đến công việc của mình và họ sẽ rất thất vọng khi họ không được làm việc. Họ cũng sẽ khăng khăng làm cho dù việc đó rất mạo hiểm (giống như một con bạc chơi thâu đêm suốt sáng. Một lý do giải thích cho điều này đó là công việc đã trở thành một phần rất lớn của sự tự ý thức về bản thân. Để bảo vệ chính mình, đôi khi họ phải thể hiện ra bên ngoài những hành động tự vệ ví dụ như sự hung hăng, đặc biệt khi chỗ đứng của họ bị đe dọa. Những người với niềm đam mê công việc một cách ảm ảnh thì thường có những hình ảnh tiêu cực về bản thân, dễ dàng gắn hai từ "bản thân" và "khó ưa" với nhau hơn là những người với có mức độ đam mê ám ảnh thấp hơn. Điều này cho thấy sự kiên trì theo đuổi công việc của họ không phải xuất phát từ niềm vui ham thích bên trong mà là từ cái tôi không ổn định.

Những sự khác biệt này sẽ có những tác động nhất định dẫn đến tình trạng kiệt sức do làm việc quá nhiều. Một nghiên cứu gần đây điều tra tình trạng kiệt sức (dựa trên đo tình trạng kiệt sức về mặt cảm xúc) của hai ví dụ tiêu biểu của các y tá trong suốt sáu tháng, ở hai quốc gia khác nhau. Niềm đam mê công việc một cách ám ảnh đã gia tăng khả năng kiệt sức; trong khi đó, niềm đam mê hài hòa giúp bảo vệ chống lại tình trạng kiệt sức. Những nhà nghiên cứu đã xác minh một vài yếu tố quan trọng để giải thích mối liên quan này. Niềm đam mê công việc ám ảnh thường đi cùng với mức độ xung đột với những nhiệm vụ khác trong cuộc sống cao hơn và thường không bao giờ đạt được sự thỏa mãn với công việc. Trong khi đó, niềm đam mê công việc hài hòa gắn với mức độ xung đột thấp hơn, và sự hài lòng với công việc cao hơn. Quan trọng là, những ảnh hưởng này sẽ còn tiếp tục thậm chí sau khi đã kiểm soát thành công số giờ làm việc. Những người với niềm đam mê công việc hài hòa luôn làm việc với tinh thần thoải mái và sẵn sàng giải quyết những vấn đề mới, trong khi những người với niềm đam mê công việc ám ảnh luôn chịu nguy cơ bị kiệt sức rất cao.

Tuy nhiên, chẳng phải sự kiên trì theo đuổi công việc là một điều tốt hay sao? Rất nhiều kiệt tác đã ra đời nhờ sự tập trung đầy ám ảnh vào công việc đến mức quên tất cả mọi thứ xung quanh. Nghiên cứu đã cho rằng đây có thể là một bí ẩn. Phân biệt giữ hai dạng kiên trì theo đuổi công việc một cách linh hoạt và kiên trì một cách cứng nhắc là rất quan trọng. Những người với niềm đam mê công việc ám ảnh, kiên trì làm việc một cách cứng nhắc thậm chí khi việc làm đó không còn đáng để mình bỏ công sức ra làm. Những người với niềm đam mê công việc được dung hòa thì thường nhạy bén hơn và chắc chắn cuối cùng sẽ thành công. Điều này giải thích tại sao rất nhiều thần đồng sau khi lớn lên đã dần dần thất bại dù chúng cũng rất tài năng. Chúng ta càng tự gắn mình một cách mất trí vào công việc, chúng ta càng có nguy cơ cao bị rơi vào tình trạng đuối sức.

Tóm lại, loại đam mê công việc một cách ám ảnh có rất nhiều vấn đề. Không chỉ ảnh hưởng công việc, mà còn ảnh hưởng nhiều mặt khác của cuộc sống. Bạn đang sở hữu loại đam mê nào? Bạn đã đạt được sự thỏa mãn thực sự từ công việc chưa hay có phải bạn cảm thấy như thể bạn đang làm việc là để chứng minh một điều gì đó cho người khác? Bạn có cảm thấy một nhu cầu bức thiết là phải làm việc không hay bạn có dễ dàng tạm ngưng công việc và hưởng những thú vui khác của cuộc sống không? Những câu hỏi đặt ra đối với những vị giám đốc đó là: Loại đam mê nào mà bạn đang ra sức lấy đi từ những nhân viên của mình? Đừng để bị đánh lừa bởi những nhân viên quá chăm chỉ. Bởi một vài trong số họ đang sắp rơi vào tình trạng kiệt sức.


Tác giả: KNOWLEDGE LINK GROUP (THEO HBR) Theo vef