A Pro Branding design Company

Logos Ads Brand identify designing and consulting

Portfolio

This is what we've been wroking on

Hiển thị các bài đăng có nhãn PR. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PR. Hiển thị tất cả bài đăng
[Quảng cáo sáng tạo] Để viết hay, hấp dẫn người đọc, đòi hỏi rất nhiều yếu tố: đề tài hay, lối dẫn dắt cuốn hút, câu chữ súc tích, dễ hiểu. Nhưng tất cả sẽ không có mấy ý nghĩa nếu thiếu đi ý tưởng sáng tạo (creative concept).

Đây chính là phần hồn để giúp một bài viết có sự quyến rũ của một câu chuyện. Một câu chuyện hay vẫn gây tò mò hơn là một bài viết học thuật. Như thế nào là một ý tưởng sáng tạo cho một bài viết? Thay vì giải thích câu chữ dài dòng, tôi xin lấy một ví dụ. Trong marketing, đã có hàng trăm bài viết về USP - Unique selling proposition (điểm bán hàng độc nhất) của một thương hiệu.

Cái USP trong tâm trí khách hàng này có cách nào diễn đạt hay ho hơn thay vì mô tả theo lối thông thường? Bạn đã bao giờ nghe đến từ "vantage point" (điểm chốt)? Đây là từ chỉ một vị trí địa lý độc đáo nào đấy. Ví dụ đêm giao thừa ai mà tìm được một điểm xem pháo hoa thì chỉ có nhất Trái đất!

Vậy bạn đã bao giờ xem bộ phim hành động cũng có tên Vantage point tuyệt hay của Hollywood? Bộ phim kể về... nhiều thứ hấp dẫn và bạn phải nín thở để xem vì hồi hộp từ đầu đến cuối. Chốt lại là ai có được một "điểm chốt", người đó sẽ có cơ hội chiến thắng.

Đọc đến đây chắc bạn đã hiểu ý tưởng sáng tạo là gì rồi. Khi viết về một USP của thương hiệu, "vantage point" chính là một "creative concept" rất đắt để thể hiện. Còn bộ phim trùng tên Vantage point chính là một thứ gia vị giúp bài viết có "mùi vị” của một câu chuyện.

Thay vì đọc một bài viết học thuật khô khốc, người đọc sẽ có cảm giác đọc một câu chuyện hay xem một bộ phim hành động hấp dẫn.

Vậy làm thế nào để có được một ý tưởng "gây nghiện"? Trong marketing, người ta hay nói "Content is the King" (nội dung là vua). Đối với một bài viết, tôi gọi "Concept is the King".

Vua phải có ngai vàng. Đã là ngai vàng tất nhiên không dễ chiếm. Bạn phải khát vọng cháy bỏng vì nó. Suốt ngày suốt đêm mất ăn mất ngủ vì nó. Chưa đủ. Bạn phải có năng lực để cướp lấy nó. Vẫn chưa đủ. Thỉnh thoảng bạn phải có đôi chút may mắn mới có thể sở hữu nó.

Quá trình để có được một concept hay để viết bài cũng diễn ra y chang như vậy. Làm nghề tư vấn thương hiệu, công việc của tôi là viết và viết. Chủ đề viết bài không thiếu, dẫn chứng thực tế có đầy. Nhưng khó nhất, vật vã nhất vẫn là tìm ra ý tưởng hay để chuyển tải. Có những lúc ý tưởng đến rất tình cờ khi đang xem một bộ phim, đang nghe một bản nhạc hoặc ngồi cà phê với bạn bè.

Nhưng bạn đừng nghĩ bỗng dưng "sung rụng vào miệng" nhé. Có nhiều bạn hỏi tôi bí quyết nào để có cách viết hay và ý tưởng hấp dẫn? Bí quyết duy nhất là bạn có bị "ám ảnh" về một đề tài để viết và có vật vã để tìm một ý tưởng để viết hay không.

Kể cả khi ý tưởng đến thì cũng không phải sự ngẫu nhiên. Đấy là kết quả của cả một quá trình trăn trở suy nghĩ từ trước đấy. Quá trình này dân trong nghề gọi là "ủ ý tưởng" (Incubation process). Joseph Sugarman là một trong những copywriter nổi tiếng nhất của Mỹ, ông cho rằng "Incubation process" là tiền đề không thể thiếu để có một "concept" hay.

Không như giải một bài toán, bạn không thể "quyết tâm" là có ngay "concept" trong một thời gian mặc định. Khi có ý định viết bài về một chủ đề nào đấy, trong đầu tôi nhảy nhót loạn xạ hàng chục ý tưởng. Nếu may mắn, tôi vồ được một ý tưởng tốt và bắt tay viết luôn. Nhưng đa phần, ý tưởng tốt chỉ đến khi tôi đã có đủ thời gian "ủ” đến đủ chín.

Thường khi đã có ý tưởng phù hợp, viết thành bài chỉ là loại lao động nông nhàn. Nhiều khi chỉ mất một tiếng đồng hồ cắm cúi là xong. Nhưng để có một tiếng đó, nhiều khi tôi phải mất mấy ngày, thậm chí hằng tuần để "ủ”. Tôi lại nhớ câu nói của Abraham Lincoln: "Nếu cho tôi 6 tiếng để chặt một cái cây, tôi sẽ dành đến 4 tiếng để mài rìu". Nếu một ngày tôi tình cờ được may mắn ngồi cà phê với bạn, nhỡ may tôi hơi xao nhãng câu chuyện của chúng ta, xin bạn đừng trách tôi vì có thể lúc đó tôi đang "mài rìu" đấy.

Nếu xem một bài viết là một vương quốc thì ý tưởng chính là vị vua. Bạn đã thấy một quốc gia nào không có một vị "vua" đứng đầu chưa?

theo Doanh Nhân Sài Gòn
[Thương Hiệu] Nguyên tắc 8P trong marketing hàng hiệu cung cấp cho chúng ta một bộ khung sơ khởi trong việc xây dựng chiến lược marketing thương hiệu hàng hiệu.


Công năng của một thương hiệu hàng hiệu là khả năng mang đến trải nghiệp tuyệt hảo ở hai cấp độ - thứ nhất là cấp độ sản phẩm và thứ hai là cấp độ trải nghiệm.

cấp độ sản phẩm, một sản phẩm hàng hiệu phải thực hiện hoàn hảo chức năng theo thiết kế của nó, từ kiểu dáng, chi tiết tinh xảo, độ chính xác, chất lượng vật liệu, độ bền, cho đến công nghệ và sáng tạo. Ví dụ:

Vào ngày lễ kỷ niệm 70 năm, hãng Patek Philippe cho ra mắt một loại đồng hồ đeo tay tinh tế mới. Ngoài mặt hiển thị đơn sắc với các kim chỉ thời gian, ngày và tháng được hiển thị ở ô cửa sổ đôi tại vị trí 12g với một kim nhỏ hiển thị chu kì mặt trăng. Năm sẽ được hiển thị trong ô cửa sổ ở vị trí 4g30 và ô cửa sổ chỉ ngày và đêm ở phía đối diện, 7g30. Cũng như các thương hiệu uy tín khác, mặt trước đồng hồ được ốp bằng kính tinh thể sapphire sang trọng và mặt sau được ốp bằng nắp bạch kim với các chi tiết khắc tinh tế từ nhà sản xuất hoặc theo yêu cầu của khách hàng.

Đồng hồ mặt trăng – Omega Speedmaster Chronograph. Được lựa chọn bởi NASA trong một cuộc đi bộ ngoài không gian năm 1965 và trong 6 nhiệm vụ trên mặt trăng vào năm 1969 là điều khiến loại đồng hồ này trở nên đặc biệt. Sau khi nó đóng góp lớn trong chuyến bay Apollo 13, Speedmaster trở thành biểu tượng cho hòa bình khi các nhà du hành Mỹ và Liên Xô cùng đeo nó trong sứ mạng chinh phục không gian chung đầu tiên trong chiến tranh lạnh. Loại đồng hồ này là loại duy nhất tới nay được NASA chứng nhận cho sử dụng trong các hoạt động trong không gian.


Ngoài công năng vật lý, sản phẩm hàng hiệu còn phải thực hiện tốt công năng trải nghiệm, tức là mang lại giá trị về tâm lý và tình cảm cho người sử dụng vượt ra khỏi chức năng của một sản phẩm thông thường. Ví dụ: Rolex không chỉ là một loại đồng hồ mà còn là biểu tượng của các chiến thắng oai hùng. Tiffany còn là biểu tượng của tình yêu và sự kiêu sa.



Nhiều thương hiệu hàng hiệu có lịch sử rất ấn tượng và trở thành một phần hào quang thương hiệu. Hào quang thương hiệu này thường được xây dựng dựa trên danh tiếng đặc biệt của người sáng lập trong quá khứ, tạo nên một phần hữu cơ trong lịch sử và tính cách của thương hiệu.

Do vậy, khi khách hàng ngưỡng mộ một sản phẩm của Cartier hay của Chanel, đó không chỉ vì các tính năng của nó mà một cách vô thức, họ còn bị ảnh hưởng bởi hào quang và lịch sử lâu dài của thương hiệu.

Coco Chanel khởi nghiệp vào năm 1913 và trong vòng một vài thập kỷ, bà đã trở thành nhà cách mạng trong lĩnh vực …..

Karl Lagerfeld kế tục sự nghiệp vào những năm 1980 và đã hiện đại hóa thương hiệu từ đó.

Với chiến dịch Chanel Coco Mademoiselle trong những năm 1981, 2008, 2009 và 2011, Chanel đã liên tục phát triển hào quang thương hiệu của mình.

Gucci mở cửa bảo tàng đầu tiên của mình tại Florence để đánh dấu sự lễ kỷ niệm 90 năm lịch sử.


Tương tự, Rolls – Royce chào mừng lễ kỷ niệm 100 năm lịch sử của mình với cuộc diễu hàng Spirit of Ecstasy với “100 xe hơi đại diện cho 100 năm” và trưng bày bộ sưu tập các mẫu xe Rolls-Royce với sự trợ giúp từ các thành viên câu lạc bộ Rolls-Royce Enthusiasts’ Club, được thành lập từ năm 1911.


Mọi sự thái quá trong phân phối và phô bày của các thương hiệu hàng hiệu đều sẽ dẫn tới sự pha loãng đặc trưng. Do vậy, các thương hiệu hàng hiệu thường tạo ra tâm lý rằng hàng hóa của họ là hiếm.

Một ví dụ điển hình của sự pha loãng đặc trưng là trường hợp của Burberry. Thông qua việc nhượng quyền thương hiệu tràn lan, thương hiệu này đã không còn mang ý nghĩa thường được sử dụng bởi tầng lớp tinh hoa của xã hội. Ngược lại, Gucci ngày nay chỉ được bán trong các cửa hàng họ trực tiếp sở hữu và đã từ bỏ ý định nhượng quyền thương hiệu để mở rộng kinh doanh từ những năm 1970.

Về tổng quát, ta có thể phân loại khan hiếm thành ba dạng: khan hiếm tự nhiên, khan hiếm do công nghệ, và khan hiếm do chiến lược kinh doanh.


Khan hiếm tự nhiên xuất phát từ sự khan hiếm trong nguyên liệu đầu vào như bạch kim, kim cương, v.v… và/hoặc là do hàng hóa cần trình độ chế tác đặc biệt (ví dụ như các hàng hóa phải làm thủ công và không thể sản xuất hàng loạt).


Khan hiếm do công nghệ bắt nguồn từ khoảng thời gian kéo dài từ khi hình thành ý tưởng sáng tạo trong nghiên cứu và phát triển cho tới khi có đủ khả năng sản xuất.


Khan hiếm do chiến lược kinh doanh xuất phát từ chiến lược hạn chế nguồn cung như chiến lược tạo ra các phiên bản hạn chế hay phiên bản đặc biệt để tạo ra sự khao khát và nhu cầu. Một biến thể khác của hiện tượng này là chiến lược sản xuất theo yêu cầu riêng của khách hàng. Ví dụ, hãng Garson USA thực hiện ốp kim cương lên chiếc Mercedes SL600 của Hoàng tử Al – Waleed bin Talal của Saudi Arabia năm 2007.


Sự cá nhân hóa của một thương hiệu hàng hiệu đến trước tiên là từ chất lượng phục vụ đặc biệt và nhất quán tại tất cả các giai đoạn tiếp xúc với khách hàng; và sau đó là từ sự giao tiếp thương hiệu thông qua các quảng cáo.

Các nhận dạng thương hiệu hình ảnh sẽ chứa đựng trong nó tính cách thương hiệu, nét quyến rũ và các giá trị cảm xúc. Sự khác biệt và thống nhất trong cách thể hiện đặc trưng thương hiệu là trọng tâm trong việc thiết lập tính dễ nhận dạng, sự thân thuộc và các đặc trưng nhận dạng hình ảnh. Sự tổng hòa nhận biết thương hiệu có thể được thực hiện thông qua sự phối hợp một cách nhất quán các đặc trưng thương hiệu, màu sắc, các chi tiết thiết kế khác như các biểu tượng, thiết kế sản phẩm đặc trưng,….


Trong khi đặc trưng nhận dạng của các thương hiệu hàng hiệu là một yếu tố tương đối ổn định, quảng cáo thương hiệu hàng hiệu lại là một nhân tố linh động và đa diện hơn rất nhiều. Trong khi đẳng cấp truyền thống của thương hiệu hàng hiệu là rất quan trọng, chúng ta cũng cần phải thường xuyên cập nhật với môi trường chung quanh, khiến thương hiệu gần gũi với thời đại. Do vậy, quảng cáo thương hiệu hàng hiệu không chỉ cần tạo ra sự ngưỡng mộ và khao khát sở hữu sản phẩm, mà còn phải làm tăng thêm sự hợp thời và uy tín hiện tại để sự ngưỡng mộ và khao khát sản phẩm được tiếp nối dài lâu.


Một trong những xu hướng mới trong quảng bá thương hiệu hàng hiệu là cách dùng những clip quảng cáo dài hoặc những đoạn phim ngắn để thu hút sự quan tâm của những người lướt web. Đây là cách để lấp đầy khoảng cách giữa các quảng cáo in ấn thông thường và thế giới mạng phát triển như vũ bão. Cách làm này cũng được cho là có hiệu quả nhanh chóng vì người xem sẽ nhanh chóng nhận ra hình ảnh của thương hiệu, hoặc câu chuyện mà thương hiệu muốn truyền tải , hay đơn giản là sự quảng bá của một bộ sưu tập mới.


Ngoài các phương tiện trên, để tạo ra các “kết nối tình cảm” trong lòng người xem, các thương hiệu hàng hiệu cũng biết khai thác không gian số vào các chiến dịch quảng bá của mình. Mục tiêu của việc này là tạo mối liên kết tình cảm thực sự với người xem ngoài phương diện sản phẩm và đến mức độ người xem coi thương hiệu như là một người bạn đồng hành.

Với mục tiêu là tăng cường mối liên kết giữa thương hiệu với tình yêu và sự lãng mạn, Tiffany &co. tung ra ứng dụng whatmakeslovetrue.com trên iPhone để tư vấn khách hàng cách tạo ra sự lãng mạn cho cuộc sống tình cảm của mình. Trang web cũng đăng các câu chuyện tình yêu lãng mạn có thực để chinh phục tình cảm của người xem.


Cùng với việc tạo hình ảnh “biểu tượng cho chiến thắng”, mỗi năm rolexawards.com cũng tổ chức trao tặng giải thưởng cho các dự án tiên phongý tưởng sáng tạo giúp mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho cộng đồng. Bằng cách này, họ đã tạo ra liên kết tình cảm với những người xem, ngoài phương diện được chứng nhận bởi các siêu sao.

Một số thương hiệu hàng hiệu còn tận dụng các phương tiện truyền thông xã hội. Mục tiêu có thể không nhất thiết phải là quảng cáo sản phẩm hay kể chuyện mà chủ yếu là để tạo sự khao khát và sự cuốn hút cho thương hiệusản phẩm. Đó cũng là một cách duy trì kết nối của thương hiệu với cuộc sống hiện tại.


Các hình tượng công chúng hay những người nổi tiếng thường được sử dụng như là một bộ phận trong chiến lược marketing tổng thể các thương hiệu hàng hiệu và vẫn được xem là công cụ hiệu quả.

Những hình tượng công chúng có thể là các ngôi sao điện ảnh, ca nhạc, thể thao, hay các thành viên hoàng gia và ngay cả bản thân các nhà thiết kế. Tuy nhiên, vì việc mời các nhân vật nổi tiếng làm đại diện hình ảnh đã trở nên phổ biến ở rất nhiều loại thương hiệu, không chỉ thương hiệu hàng hiệu nên việc áp dụng vào thương hiệu hàng hiệu nên có cách tiếp cận khác.

Không chỉ các giá trị cá nhân và tính cách của các biểu tượng công chúng phải phù hợp với tính cách của thương hiệu hàng hiệu mà vai trò họ nắm giữ, chiến lược sử dụng, cách thực hiện cũng khác biệt. Vượt ra khỏi phương thức quảng cáo thông thường (in ấn hay truyền hình), các cách quảng cáo khác tinh tế hơn thường được sử dụng với các thương hiệu hàng hiệu như để những người nổi tiếng sử dụng khi họ xuất hiện trước công chúng hay trên thảm đỏ, cho sản phẩm xuất hiện trong các bộ phim hay các chương trình truyền hình, hay các sự kiện đặc biệt. Chiến lược này sẽ làm mất đi cảm giác “bán hàng” nhưng vẫn đạt được mục tiêu là quảng bá sản phẩm và khiến chúng trở thành một phần gắn liền với cuộc sống những người nổi tiếng. Điều này sẽ mang lại những cảm xúc tích cực cho người tiêu dùng, giúp truyền đạt các giá trị thương hiệuhình thành ý tưởng mua hàng.

Ca sĩ người Leban và đại sứ thiện chí của Unicef Nancy Ajram là khách mời đặc biệt của Cartier ở giải Cartier International Dubai Polo Challenge tại Dubai, UAE năm 2010.

Những clip quảng cáo dài hay các phim ngắn cũng sử dụng nhân tố người nổi tiếng. Chanel gần đây đã tung ra một clip quảng cáo 3 phút với diễn viên nữ Keira Knightley (thay cho Kate Moss) thủ vai chính để quảng cáo nhãn hiệu nước hoa Coco Mademoiselle. Những khuôn mặt trước của Chanel bao gồm ngôi sao điện ảnh Catherine Deneuve và Nicole Kidman, đại diện cho nhãn hiệu Chanel No. 5.

Tương tự, như một phần trong chiến dịch quảng bágiá trị cốt lõi”, Louis Vuitton dùng website để cập nhật các chuyến hành trình của đại diện thương hiệu của mình và các câu chuyện liên quan tới họ để kết nối khách hàng với những chuyến đi thú vị cùng với những người nổi tiếng.


Hành trình của Angelina Jolie và câu chuyện của cô (ở Cambodia) là một trong số những câu chuyện về các chuyến đi của người nổi tiếng trên trang web của Louis Vuitton.


Không gian bán lẻ của các thương hiệu hàng hiệu luôn nhằm hướng tới nâng cao trải nghiệm thương hiệu của khách hàng và phát triển hào quang của thương hiệu. Do vậy, không gian bán hàng phải là nơi hỗ trợ cho “sức sống” của thương hiệu, bằng cách phối hợp nhịp nhàng các chi tiết và quá trình giúp khách hàng cảm nhận bằng tất cả các giác quan của mình.

Sản phẩm tuyệt hảo là không đủ. Thương hiệu hàng hiệu cũng phải tuyệt hảo ở cấp độ trải nghiệm của khách hàng.

Bắt đầu từ việc chọn địa điểm cửa hàng, chuỗi tương tác khách hàng, nhân viên bán hàng, và tác động của các điểm tiếp xúc phải được thiết kế và sắp xếp bài bản để tạo ra một cảm nhận độc nhất và cảm giác thoải mái tuyệt đối cho khách hàng.

Ngày nay, những khách hàng ưa chuộng hàng hiệu không chỉ cần sự tiện nghi, thoải mái, dịch vụ cao cấp, các nhân viên nhiệt tình, hay thậm chỉ cả các dịch vụ thiết kế riêng cho từng khách hàng. Với sự phát triển rộng rãi của rất nhiều các thương hiệu hàng hiệu, khách hàng ngày càng trở nên kỹ lưỡng và đòi hỏi tinh tế. Họ cần sự tư vấn chuyên nghiệp, có hiểu biết, và đáng tin cậy để giúp mình tạo ra hình tượng và lối sống phù hợp. Điều này không chỉ tạo ra các cơ hội kinh doanh mới như trường hợp của Quintessentially mà đồng thời đòi hỏi các thương hiệu hàng hiệu phải đầu tư mạnh mẽ vào việc đào tạo và phát triển nhân lực.


Quintessentially là một doanh nghiệp Anh Quốc với hơn 60 văn phòng trên khắp thế giới chuyên về tư vấn cho giới nhà giàu, người nổi tiếng tạo lập phong cách sống cao cấp. Những dịch vụ của họ bao gồm quyền tham dự vào các sự kiện VIP, những lễ hội văn hóa, những sự kiện trăm năm có một; hoặc sử dụng dịch vụ tại các nhà hàng hạng top, các câu lạc bộ, spa và khách sạn cao cấp; hoặc tiêu dùng các loại rượu cao cấp, sử dụng máy bay riêng, xe hơi sang trọng, du thuyền; hoặc được sự phục vụ của các nhà tổ chức sự kiện chuyên nghiệp, các nhà tư vấn đầu tư, các nhà tổ chức du lịch; được quyền vào học tại các đại học danh tiếng, ….và rất nhiều dịch vụ khác nữa.

Một điểm đặc biệt cần lưu ý trong nhân tố vị trí này là nó không giới hạn ở môi trường vật lý, nơi mà người ta trưng bày hàng hóa, nó còn mở rộng tới tất cả những không gian mà khách hàng tiếp xúc và có liên quan tới thương hiệu. Các không gian này có thể bao gồm các phương tiện truyền thông có chọn lựa như các kênh truyền hình hoặc báo chí chuyên thể thao, thời trang, nghệ thuật mà thương hiệu hàng hiệu đó có liên quan.

Nhà sản xuất xe hơi Italia Maserati đã đưa mẫu xe GranTurismo coupes vào phim Limitless năm 2011 trong phân cảnh mà diễn viên nam chính cần lái một chiếc xe hạng sang để thể hiện phong cách, đẳng cấp, và cả chất lượng xe.


Quan hệ công chúng trong xây dựng thương hiệu hàng hiệu đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên hình ảnh cho thương hiệu và định hình nhận thức của xã hội về thương hiệu. Nó cũng giúp truyền đi những thông điệp và các đặc trưng quan trọng trong việc tạo lập tính cách, hình ảnh và giá trị cảm xúc của thương hiệu mà các phương tiện khác và các chữ P khác không thể thực hiện được.


Đây cũng là phương tiện xây dựng thương hiệu rất phức tạp để duy trì mối liên kết giữa thương hiệu hàng hiệu và xu hướng thời đại, đặc biệt là với các thương hiệu liên quan tới thời trang và công nghệ. Tại cấp độ chiến thuật, PR được dùng để tạo làn sóng và truyền tin tức về thương hiệu, quan điểm của những người được cho là có tác động tới quan niệm xã hội (như các diễn viên, nhà thiết kế, hoặc ca sĩ nổi tiếng), và tạo ra các sự kiện có lợi cho thương hiệu (tuần lễ thời trang, sự kiện thể thao,…)


Định giá cũng đóng vai trò khá quan trọng trong việc hình thành cảm nhận của khách hàng đối với một thương hiệu hàng hiệu.

Một cách ý thức hay vô thức, khách hàng thường có trong đầu một khoảng giá đối với các loại hàng hóa được coi là hàng hiệu. Do vậy, việc định giá sản phẩm hàng hiệu cũng phải phù hợp với kỳ vọng này. Nếu sản phẩm được định giá thấp hơn kỳ vọng thì điều này sẽ làm giảm giá trị thương hiệu. Ngược lại, nếu định giá quá cao thì khách hàng sẽ không cảm thấy bị thuyết phục để mua món hàng.

Chiến lược giá của thương hiệu hàng hiệu mới chỉ nhận được nhiều chú ý trong những năm gần đây một phần do môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh và vì khách hàng ngày càng tinh tế và đòi hỏi cao. Với các khách hàng như vậy, giá cao nhưng không tương xứng với phẩm chất thì cũng không phải là hàng hiệu. Những nghiên cứu gần đây bởi Unity Marketing cho thấy những khách hàng giàu có sẽ không trả gấp 10 lần tiền cho một mặt hàng chỉ tốt hơn ba lần. Do vậy, thương hiệu hàng hiệu phải có giá cả tương xứng với các phẩm chất tổng hợp của 7 P mà chúng ta đã nghiên cứu. Như vậy mới có thể duy trì được giá trị của thương hiệu trong lòng khách hàng.


Những đợt khuyến mãi cũng phải được thực hiện theo cách khác đối với các thương hiệu hàng hiệu. Rất ít thương hiệu hàng hiệu dùng cách bán giảm giá. Thay vào đó, họ dùng cách gia tăng giá trị cho khách hàng như tặng kèm thêm quà hoặc phiếu đổi quà, phiếu giảm giá nếu mua nhiều sản phẩm, miễn phí giao hàng, …. Thương hiệu hàng hiệu còn sử dụng kênh phân phối chuyên nghiệp và cao cấp như Harvey Nichols, Sak 5th Avenue, nơi thường tổ chức khuyến mãi hằng năm thông qua giảm giá chút ít với hàng hóa của họ.

Một cách khác được sử dụng bởi các thương hiệu hàng hiệu là mở thêm các dòng sản phảm hạng trung như Armani Exchange của Giorgo Armani, Just Cavalli của Roberto Cavalli, Miu Miu của Prada, McQ lines của Alexander McQueen.

Tổng kết

Những điểm lưu ý khi xây dựng thương hiệu hàng hiệu:
  1. Sản phẩm tuyệt hảo là không đủ. Thương hiệu hàng hiệu cũng phải tuyệt hảo ở cấp độ trải nghiệm của khách hàng. Đối với các khách hàng, không chỉ hai yếu tố trên tạo ấn tượng với họ, sự tương xứng giữa giá cả và giá trị cũng rất quan trọng.
  2. Trong khi yếu tố truyền thống lâu đời là quan trọng đối với thương hiệu hàng hiệu, duy trì sự hợp thời thông qua cá nhân hóa, PR, và các hình tượng công chúng cũng là yếu tố quan trọng.
  3. Những thương hiệu hàng hiệu phải tiếp tục duy trì sự đặc biệt, sự khan hiếm, và kênh bán hàng, từ cửa hàng bán lẻ cho tới tất cả các điểm giao tiếp với thương hiệu khác.
Nguyên tắc 8P trong marketing hàng hiệu cung cấp cho chúng ta một bộ khung sơ khởi trong việc xây dựng chiến lược marketing thương hiệu hàng hiệu. Phương pháp này không phải là một phương pháp mạnh nhất, tuy nhiên, nó vẫn giúp ta xây dụng một bộ khung phân tích để xây dựng, phát triển, và kiểm soát thương hiệu hàng hiệu. Trong khi ứng dụng, chúng ta cũng cần lưu ý rằng đặc trưng của các thương hiệu hay của các thị trường khác nhau là khách nhau. Do vậy, khi áp dụng phương pháp này, chúng ta cũng nên giữ sự linh động và uyển chuyển.

[Tư vấn Marketing - PR] Có ý kiến cho rằng các hoạt động của ngành PR cũng có lịch sử lâu như lịch sử văn minh nhân loại. Để xã hội có thể tồn tại, con người cần đạt được những thoả thuận tối thiểu nhất, và thoả thuận này thường đạt được thông qua tương quan con người và nhóm người với nhau.

Nhưng đạt được thoả thuận thường đòi hỏi nhiều hơn việc đơn giản chỉ là chia sẽ thông tin; điều này đòi hỏi những yếu tố thuyết phục mạnh mẽ về phần của từng đối tượng liên quan trong quá trình đưa ra quyết định. Hôm nay, tính thuyết phục vẫn còn là lực lượng chủ yếu trong PR, và nhiều thủ thuật mà những chuyên gia PR hiện đại sử dụng nhằm thuyết phục đã được sử dụng bởi những lãnh đạo của bộ lạc, xã hội vài ngàn năm trước đây.

Đài kỷ niệm và các hình thức nghệ thuật khác của thế giới cổ đại đã đưa ra những bằng chứng phản ánh những nổ lực sơ khai của việc thuyết phục công chúng – được xem như một hoạt động PR sơ khai. Đơn cử như Kim tự tháp, các bức tượng, các đền đài, hầm mộ, bức hoạ và những ký tự chữ viết sơ khai…Thử nhìn lại những kỹ thuật và công cụ sơ khai được sử dụng nhằm giúp các hoạt động thuyết phục nâng cao tính hiệu quả. Từ những khái niệm trên cho thấy, trong quá trình phát triển của mình, PR đã sử dụng nhiều kỹ thuật thuyết phục khác nhau đã chứng minh cho tính hữu ích và hiệu quả suốt nhiều thế kỷ.

Như Theodore Lustig, giáo sư và sáng lập công ty Sun Chemical Corporation Communications đã từng tuyên bố “Tổ tiên loài người đã làm những gì họ có. Hai phương tiện truyền thông của họ, điêu khắc và đồng tiền, đã thể hiện rất hiệu quả công dụng, và công dụng của nó đã kết thúc và được xác định và khoảng thế kỷ thứ 4 trước công nguyên. ”

Các công cụ và chiến lược PR trong suốt tiến trình lịch sử:

Trong suốt tiến trình lịch sử: PR đã được sử dụng để khuyến kích chiến tranh, để vận động hành lang cho các nguyên nhân chính trị, để hỗ trợ các phe đẳng chính trị, để khuyến kích tôn giáo, để bán hàng, để tăng tiền tệ và để tuyến bố các sự kiện và con người. Thực vậy, hầu hết các tính năng mà xã hội hiện đại tìm thấy ở PR không mới, và PR thực hành hiện đại đã học rất nhiều từ việc nghiên cứu các chiến dịch thực hiện bởi các chuyên gia trước đây.

Vào năm 1095, Pope Urban đệ II khuyến kích chiến tranh và ông ta truyền tải thông điệp theo các kênh mà ông ta có được thời bấy giờ nhằm đạt được mục đích.

PR và các hoạt động liên quan đã được sử dụng nhằm khuyến kích tôn giáo trong suốt nhiều thế kỷ qua và chúng ta cũng đã hình thành được từ “tuyên truyền”.

Tuy nhiên, các học giả về PR nhận thức rằng một trận chiến/Hoàng đế đạt được trong lịch sử những người nổi tiếng và các sự kiện đặc biệt không thể hoàn toàn giải thích tiến trình phát triển của PR, tầm nhìn vào các giai đoạn phát triển xã hội rất cần thiết cho việc am hiểu những sự kiện này.

Các Chiến thuật PR trong suốt tiến trình lịch sử:

Nhiều chức năng và công dụng của PR đã tồn tại trong suốt tiến trình lịch sử của nhân loại. Tuy nhiên, Những tính tương đồng không thể nói trước được trong PR thế kỷ 21, vì những điều này thường tùy thuộc và những phát minh liên quan gần nhất. Ví dụ, Nhiều PR hiện đại tùy thuộc vào truyền thông điện tử – điện thoại, fax, vệ tinh…và phương tiện truyền thông đa phương tiện: điện ảnh, radio và truyền hình. PR cũng đã bị ảnh hưởng rất nhiều bởi sự phát triển của lĩnh vực máy tính, đặc biệt là sự khám phá ra phương tiện truyền thông mới – đó là Internet và Intranet.

Dĩ nhiên, không phải tất cả các chiến thuật của PR hiện đại có nguồn gần đây. PR vẫn còn sử dụng thuật hùng biện – được xem là có lịch sử ngang với lịch sử loài người; ký tự – có lịch sử bằng với trí tưởng tượng của loài người; và khẩu hiệu – có nguồn gốc kể từ khi con người sống bầy đàn.

Trước cuộc cách mạng công nghiệp, giai đoạn quan trọng nhất trong tiến trình phát triển của PR được xem là có khoảng 100 năm tính từ khoảng thời gian 1450. Trong giai đoạn này, sự phục hưng đạt tới đỉnh cao, nhiều cải cách được bắt đầu và Châu Âu đã phát hiện ra Tân Thế Giới. Những sự kiện này đã cho con người cái nhìn mới về mình, về mọi người và về môi trường sống của họ.

Giai đoạn này cũng đánh dấu sự ra đời của thời đại truyền thông mới: Vào khoảng năm 1450, Johann Gutenberg đã phát hiện ra kỹ thuật in và báo chí ra đời. Nhiều phát minh sau đó cũng đã tác động đến văn minh loại người. Những tính năng của những phát minh đó đã được các PR thực hành ứng dụng ngay: sách báo, bảng quảng cáo, truyền đơn, Thông cáo báo chí, báo chí…Dĩ nhiên là Những phương tiện truyền thông này đã tồn tại trước khi Guntenberg và báo chí, nhưng chưa bao giờ được sử dụng một cách hiệu quả nhằm gửi đến và thuyết phục nhiều người cùng một lúc.

Như vậy lịch sử PR có thể tạm chia thành 5 giai đoạn như sau:
  • Giai đoạn Khởi nguyên PR tại nước Mỹ: 1600 – 1799
  • Giai đoạn Truyền thông/Nền tảng: Kỷ nguyên Báo chí và tuyên truyền: 1800 – 1899
  • Giai đoạn Phản ứng/Trả lời: Thời đại báo chí: 1900 – 1939
  • Giai đoạn Hoạch định/Đề phòng: Giai đoạn phát triển PR như là một chức năng quản trị: 1940 -1979
  • Giai đoạn chuyên nghiệp hoá: Kỷ nguyên của PR trong truyền thông toàn cầu: 1980-hiện nay.

Theo Vietnammarcom (D.T.Q từ Internet)
[Marketing4u - Advertising] Để chiến thắng được Unilever với thâm niên hơn 1 thế kỷ kinh doanh tại châu Á và quá hiểu người tiêu dùng Việt Nam, P&G đã không ngần ngại tung ra hàng loạt chương trình quảng bá sản phẩm táo bạo và quyết liệt.

Ngày 01/06/2012, một trường mẫu giáo khai trường tại làng Minh Phương, ngôi làng cách Hà Nội khoảng 50 dặm. Nhìn bề ngoài, ngôi trường này cũng chẳng khác gì nhiều trường mẫu giáo khác.

Thế nhưng bên trong lớp học, mọi chuyện hoàn toàn khác. Mỗi lớp đều có một tấm biển màu bạc gần cửa ra vào với những dòng chữ hiếm khi xuất hiện trong sách giáo khoa: “Gillette là tốt nhất”; “Pampers mang đến giấc ngủ yên” hay “Pantene óng mượt”.

Tất cả tấm biển trên đều mang thương hiệu của sản phẩm mà tập đoàn Procter & Gamble đang bán tại Việt Nam. Nhân viên tập đoàn đã đóng góp khoảng 80% trong tổng chi phí 100 nghìn USD xây ngôi trường. Tập đoàn sản xuất hàng hóa tiêu dùng lớn nhất thế giới này đang bằng mọi phương tiện, từ tổ chức quyên góp cho đến quảng cáo trên truyền hình hay biểu ngữ kêu gọi rửa tay sạch để giành được khách hàng Việt Nam.

Đối thủ Unilever vốn đã kinh doanh tại nhiều thị trường châu Á hơn một thế kỷ qua không kém cạnh. Và nhiều tập đoàn bán lẻ khác như Kimberly- Clark hay Beiersdorf AG đều rất chú trọng đến thị trường châu Á.

P&G quyết liệt muốn giành được khách hàng tại thị trường với những người tiêu dùng trẻ tuổi và dễ tính; 45% dân số Việt Nam dưới tuổi 25. Một khi đã dùng sản phẩm của P&G, họ sẽ được giới thiệu đến nhiều sản phẩm khác nữa sẽ đi theo họ trong suốt khoảng thời gian khi họ già đi hay giàu có hơn.

Dù trong những tháng gần đây, kinh tế Việt Nam có tăng trưởng chậm lại bởi lạm phát cao, tăng trưởng năng suất lao động thấp; thu nhập bình quân đầu người từ năm 1994 đến năm 2010 tăng hơn 5 lần, từ 220USD lên 1.168USD (theo số liệu của chính phủ Mỹ).

Tầng lớp người tiêu dùng trẻ đầy tiềm năng

Hơn thế nữa, gần 90 triệu người Việt Nam ngày một chuộng sản phẩm mang thương hiệu của các hãng phương Tây bởi họ cho rằng chất lượng tốt hơn so với hàng nội. Nhà điều hành các công ty sản xuất hàng tiêu dùng khẳng định người tiêu dùng Việt Nam quan tâm đến hàng hóa không kém người tiêu dùng có thu nhập tương đối tại các thị trường đang phát triển khác. Đó là lý do tại sao những công ty toàn cầu đã có trụ sở tại Trung Quốc, Braxin và Ấn Độ đang hướng đến Việt Nam..

Bà Deb Henretta, chủ tịch P&G tại châu Á, nhận xét: “Việt Nam có một văn hóa trẻ, người Việt Nam luôn muốn thử nghiệm cái mới. Vì vậy chẳng cần thiết phải là tập đoàn 100 năm tuổi mới có thể chiến thắng.” Bà cho biết thêm Việt Nam và vài thị trường châu Á khác, ví như Myanmar mang đến động lực tăng trưởng quan trọng cho công ty.

Tại Việt Nam, P&G, hãng đang đứng đầu về cung cấp sản phẩm xà phòng, kem đánh răng, giấy vệ sinh và dao cạo tại Mỹ, sẽ còn phải nỗ lực nhiều. Unilever giành được nhiều thị phần hơn trong nhóm sản phẩm chăm sóc gia đình và cá nhân. Kimberly-Clark chiến thắng P&G đối với sản phẩm tã; P&G cũng không chiến thắng được Beiersdorf, hãng sản xuất kem Nivea, đối với sản phẩm dường da. P&G đứng đầu

Ông Oru Mohiuddin, chuyên gia nghiên cứu tại Euromonitor International, dự báo: “Việt Nam sẽ là thị trường nổi lên tiếp theo, mức độ cạnh tranh sẽ rất gay gắt.”

Năm 2011, doanh thu từ bán tã, sản phẩm chăm sóc cho cá nhân và gia đình, sản phẩm làm đẹp của tất cả các công ty tại Việt Nam đạt khoảng 1,35 tỷ USD; tăng 14% so với năm 2010 (số liệu từ Euromonitor). Con số này còn rất nhỏ so với tổng doanh thu 82,6 tỷ USD trên toàn cầu, thế nhưng Việt Nam vẫn được coi như một trong những thị trường mới nổi tăng trưởng nhanh nhất. Euromonitor dự báo tiêu dùng sẽ tăng trưởng 42% từ năm 2012 đến năm 2016.

Chiến thắng với mọi đối tượng khách hàng

Chủ tịch P&G tại châu Á tuyên bố: “Chúng tôi muốn chiến thắng đối thủ với mọi đối tượng khách hàng.”

P&G tung ra hàng loạt chương trình quảng cáo trên tivi, kênh truyền thông có sức ảnh hưởng mạnh nhất. Năm 2011, đại diện của P&G đi khắp Việt Nam trên một chiếc xe tải sặc sỡ với lôgô dầu gội Rejoice siêu mượt, kem dưỡng da Olay, dao cạo Gillette để kiếm thí sinh cho mùa đầu tiên của chương trình tìm kiếm tài năng Việt (Vietnam’s Got Talent) mà P&G là nhà tài trợ duy nhất. Tập đoàn còn cho thuyền đi khắp khu vực đồng bằng sông Mêkông để tiếp cận người tiêu dùng tại khu vực nông thôn sống lênh đênh trên nước, bán sản phẩm dùng một lần ví như nước xả vải Downy với giá rẻ.

P&G đã mở hai nhà máy tại Việt Nam, gần đây nhất là nhà máy sản xuất tã với hơn 900 công nhân vào năm 2010. Và cũng giống như nhiều công ty, tập đoàn toàn cầu khác làm ăn kinh doanh tại Việt Nam, P&G tổ chức nhiều hoạt động từ thiện giúp mang đến dịch vụ giáo dục, y tế đến khu vực dân cư nghèo khó. Đổi lại, P&G quảng bá được thương hiệu của mình đến cộng đồng mà P&G hỗ trợ.

Ông Ali Dibadj, chuyên gia phân tích tại Sanford C. Bernstein, khẳng định: “Họ phải làm chiến dịch quảng bá này để cuối cùng sẽ có thêm người tiêu dùng mua sản phẩm của họ. Sự thành công của chiến dịch đến đâu còn phải cần thêm thời gian.”

Ví như gần đây, P&G tổ chức sự kiện khuyến khích rửa tay sạch tại trường tiểu học gần trường mẫu giáo tại làng Minh Phương. 15 nhân viên tập đoàn dậy học sinh hát tiếng Anh. Ở đó có một tấm banner màu đỏ và vàng có dòng chữ bằng tiếng Việt và tiếng Anh: “Hãy rửa tay bằng xà phòng của chúng tôi”. Ngoài ra đại diện hãng còn tổ chức trò đố vui với phần quà cuối chương trình là túi sản phẩm kem đánh răng Oral – B, đồ dùng học tập và nhiều mặt hàng khác.

Trong buổi tối cùng ngày, hàng trăm dân làng cùng tụ tập ở sân trường mầm non để xem học sinh, giáo viên hát và nhảy. Chủ tịch P&G tại châu Á cũng lên sân khấu để giới thiệu về sản phẩm của công ty. Khi bà giới thiệu lần lượt các sản phẩm, từ Tide, Downy, Rejoice, Gillette, Safeguard, cho đến Oral-B, bà yêu cầu khán giả vỗ tay nếu họ nhận ra sản phẩm đó. Trong lúc bà nói, nhân viên của hãng minh họa cách dùng của sản phẩm để đảm bảo người xem hiểu công dụng. Buổi tối kết thúc với điệu múa sạp và người tình nguyện hát vang bài hát “Việt Nam, Hồ Chí Minh”.

Theo Diệp Thanh TTVN/Bloomberg
[Marketing3k.vn] Nói về việc mua đứt thị trấn Mỹ của doanh nhân Việt, chuyên gia tài chính người Mỹ gốc Việt - Bùi Kiến Thành cho biết: Đó là cú PR ngoạn mục.

1 triệu USD để có mặt trên các tờ báo danh tiếng TG
Khi nghe tin có một người Việt mua đứt thị trấn của Mỹ, nhà tài chính người Mỹ gốc Việt Bùi Kiến Thành đã không giấu nổi niềm vui và sự tự hào về quyết định bản lĩnh và đúng đắn này.

"Anh ấy mua thị trấn này với giá 900.000 đô la (cứ cho là gần 1 triệu USD). Tôi đánh giá rất cao so với việc bỏ ra 1 - 1,5 triệu đô la mua một chiếc xe Rolls Royce chạy loanh quanh thành phố Sài Gòn. Chuyện đó vừa phí tiền, phí của, phí sức lao động của nông dân Việt Nam, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời thu hoạch ngoại tệ để làm việc đó" - ông Thành thẳng thắn nói.

Được biết đến là người Việt đầu tiên được đào tạo về tài chính tại Hoa Kỳ, chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành cho rằng: Mua được một thị trấn trên đất Mỹ dù lớn hay nhỏ đó cũng là một việc làm "rất hay"!

Vẫn biết rằng: Mỗi người đều có những dụng ý và mục đích của riêng mình khi bỏ tiền ra "mua danh ba vạn (bán danh ba đồng)" giống như câu nói của các cụ ngày xưa.

Ông Bùi Kiến Thành (phải) tại bàn tròn trực tuyến với VEF. (Ảnh: LAD)

Nhưng theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành đánh giá: việc mua máy bay riêng của đại gia Đoàn Nguyên Đức giúp cho việc đi lại của vị Chủ tịch Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai này được thuận lợi, công việc không phải phụ thuộc vào các hãng hàng không như Vietnam Airlines, đó được coi là lợi ích về kinh doanh thực tế. Còn việc mua cổ phần đội bóng Arsenal của bầu Đức, trước mắt có thể coi là đam mê bóng đá nhưng chưa thấy được lợi ích quốc gia.

"Nhưng với quyết định của anh Phạm Đình Nguyên này thì có thể thấy được lợi ích quốc gia ở trong đó. Nếu anh Nguyên làm được điều gì đó nổi đình, nổi đám thì sẽ đưa được tên tuổi của người Việt trên báo chí quốc tế".

Chỉ tính riêng việc Việt Phạm Đình Nguyên những ngày qua xuất hiện trên những tờ báo nổi tiếng trên thế giới như Daily Mail, CNN, USA Today với hàng nghìn lượt người đọc, dư luận Mỹ cũng như nhiều nước khác liên tục xôn xao, bàn luận đã là một thành công "đáng nể" của vị doanh nhân trẻ!

Rồi đây, sẽ không chỉ có 1.000 chiếc xe hàng ngày đi qua thị trấn nhỏ này biết đến thương hiệu của anh ấy mà còn có cả triệu người trên thế giới biết đến tên tuổi và bản lĩnh của chàng trai trẻ - doanh nhân Việt Phạm Đình Nguyên.

"Rồi đây, sẽ không chỉ có 1.000 chiếc xe hàng ngày đi qua thị trấn nhỏ này biết đến thương hiệu của anh ấy mà còn có cả triệu người trên thế giới biết đến tên tuổi và bản lĩnh của chàng trai này. Logo Việt Nam, lá cờ Việt Nam đã được cắm trên đất Mỹ, chỉ tính riêng việc làm thương hiệu đã rất tốt rồi" - ông Thành cho biết.

Theo ông, không dễ gì người ta có thể gây tiếng vang trên những tờ báo danh tiếng quốc tế. Thậm chí, nhiều người sẵn sàng bỏ thật nhiều tiền ra để được xướng tên nhưng chưa chắc đã đi vào lòng người và được người khác chú ý.

"Thay vì bỏ mấy chục triệu đô la cho chi phí quảng cáo, cú PR chỉ gần 1 triệu đô của anh Phạm Đình Nguyên là quá rẻ, quá tuyệt vời, quá siêu, quá ngoạn mục rồi!" - ông Thành đánh giá.

Giấc mơ Mỹ - ảo tưởng hay không ảo tưởng?

Có không ít người cho rằng: Phạm Đình Nguyên đã "đơn thuần mua 10 mẫu đất, một cửa, hàng, một căn nhà, và mấy tòa nhà nữa với giá 900.000 USD. Chẳng khác gì so với việc họ mua riêng từng thứ. Khó có thể xem đây là một thị trấn thực sự, mà chỉ là đất đai nhà cửa của một ai đó và được gắn mác "thị trấn".

Trong khi với giá đất một số nơi ở Mỹ đang rẻ hơn cả Việt Nam, mức giá 900.000 USD, người ta có thể mua được một nơi đẹp đẽ bên đường Interstate 80 - nơi này có thể xây được một siêu thị, theo lời mách nước của độc giả trên trang CNN.

Với câu hỏi: Liệu giấc mơ Mỹ của doanh nhân Phạm Đình Nguyên có bị coi là quá ảo tưởng không, chuyên gia tài chính người đã từng có thời gian sinh sống tại Mỹ, ông Bùi Kiến Thành cho rằng: Ảo tưởng hay không còn phụ thuộc vào hành động của người đó.

"Vấn đề cần đặt ra là trong thời gian tới, anh ấy sẽ làm gì và sử dụng mảnh đất này vào mục đích gì đó mới là điều quan trọng và cần quan tâm trước nhất".

Với dự định và giấc mơ biến thị trấn Mỹ thành một showroom trưng bày hàng Việt, theo ông Thành, Phạm Đình Nguyên phải suy nghĩ kỹ vì nơi đó là đồng không, mông quạnh, xung quanh không có dân cư sinh sống.

Ông Thành nhấn mạnh: Các bạn đừng quên, Las Vegas cũng có thời là một vùng sa mạc bỏ hoang. Người đầu tiên đặt chân tới đó, khi ấy chỉ là một bãi sa mạc khát cháy nhưng anh ta đã làm nên một thủ phủ quốc tế về sòng bạc. 100 năm sau, khắp năm châu đều biết đến cái tên Las Vegas - một thành phổ nghỉ dưỡng, đánh bạc và ẩm thực nổi tiếng thế giới.


"Chúng ta cũng chưa biết dưới lòng đất của khu thị trấn nhỏ ấy còn có gì nữa. Bên Mỹ không như Việt Nam và các nước khác, mua đất không những là chủ sở hữu không gian trên đất mà còn là chủ sở hữu cả những gì dưới đất như tài nguyên, kim loại... Nhỡ may anh ấy tìm ra một mỏ kim cương, một mỏ dầu lửa hay một cái gì đó quý hiếm tương tự thì sao?"

Tôi còn nhớ: Trong một bộ phim của Mỹ cũng từng nói về chàng trai làm phu trong nhà một địa chủ tại một trang trại nọ. Anh này đã tìm ra một khu dầu mỏ trong trang trại đó. Nghe có vẻ cổ tích nhưng đó là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

"Trường hợp của anh Phạm Đình Nguyên, tôi cũng hi vọng anh ấy có may mắn và bản lĩnh để làm một điều đáng kể" - ông Thành bày tỏ.

Với dự định và giấc mơ biến thị trấn Mỹ thành một showroom trưng bày hàng Việt, theo ông Thành, Phạm Đình Nguyên phải suy nghĩ kỹ vì nơi đó là đồng không, mông quạnh, xung quanh không có dân cư sinh sống. Mặc dù trước đây, thị trấn nhỏ này đã từng có 2.000 người sinh sống nhưng giờ chỉ có duy nhất một cư dân.

"Có ước mơ thì phải thực hiện ước mơ ấy bằng được. Anh Nguyên có ý tưởng nhưng kế hoạch gì thì chưa thấy rõ. Tôi mong anh có được bản lĩnh để thực hiện một quyết định táo bạo. Hi vọng việc làm của anh sẽ biến 1 triệu USD thành 1 tỷ hay 100 tỷ đô la,...gây tiếng vang hơn nữa trên thực tiễn" - ông Thành nhắn nhủ.


Theo GDVN

[Masgroup.vn] Philip Kotler giải đáp về PR và Quảng cáo Bài viết này muốn làm sáng tỏ tầm quan trọng của PR và quảng cáo trong mô hình marketing ngày nay. Qua một vài kết luận, hy vọng rằng những thắc mắc của bạn sẽ được làm sáng tỏ. Giáo sư Philip Kotler, hiện đang giảng dạy tại trường Kellog of Management. Chi tiết